Á p lực điều hành ngày càng lớn
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến ngày 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% so với cuối năm 2025, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 7,41%. Chênh lệch hơn 2,3 điểm phần trăm tiếp tục phản ánh thực trạng dòng vốn cho vay tăng nhanh hơn tốc độ huy động, gây sức ép lên thanh khoản toàn hệ thống.
Xu hướng này không phải mới xuất hiện. Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết trong khoảng 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Bình quân mỗi năm, tín dụng tăng cao hơn huy động khoảng 3,8%. Đáng chú ý, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động (LDR) của toàn hệ thống hiện ở mức khoảng 111-112%, đồng nghĩa cứ huy động được 100 đồng thì hệ thống ngân hàng đang cho vay khoảng 112 đồng, phần thiếu hụt phải được bù đắp từ các nguồn vốn khác.
Áp lực điều hành chính sách tiền tệ ngày càng lớn - Ảnh: ST
Theo ông Phạm Chí Quang, mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn bảo đảm đầy đủ khả năng chi trả, song áp lực thanh khoản gia tăng khiến việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp trở nên khó khăn hơn. Đây cũng là nguyên nhân khiến lãi suất trên thị trường có xu hướng tăng trở lại kể từ cuối năm 2025.
Trong Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp mới đây, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cũng thẳng thắn nhìn nhận việc điều hành lãi suất trong thời gian qua "tương đối vất vả" khi nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn trong khi khả năng huy động còn hạn chế. Thống đốc nhấn mạnh: “Chúng ta tập trung vào tăng trưởng kinh tế, tập trung vào tín dụng, vì vậy khi thiếu hụt vốn thì đương nhiên lãi suất nâng cao. Lãi suất huy động đầu vào tăng thì lãi suất đầu ra cũng tăng, tác động trực tiếp đến doanh nghiệp”.
Để hạn chế áp lực tăng lãi suất , NHNN đã điều hành theo hướng kiểm soát cạnh tranh lãi suất huy động giữa các TCTD nhằm giữ mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý, vừa hỗ trợ doanh nghiệp vừa bảo đảm an toàn hệ thống. Bên cạnh đó, NHNN đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu các phương án huy động thêm nguồn lực từ nước ngoài nhằm bổ sung vốn cho nền kinh tế. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng đang xem xét mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ, trong đó có các doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ đầu tư.
Một áp lực khác đến từ cơ cấu nguồn vốn. Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, khoảng 80% nguồn vốn của hệ thống ngân hàng là vốn huy động ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay trung và dài hạn của doanh nghiệp ngày càng lớn. Điều này buộc các tổ chức tín dụng phải cân đối chặt chẽ giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn thanh khoản.
Thực tế này cũng được ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, chỉ ra khi đánh giá ngành Ngân hàng đang đối mặt với năm thách thức lớn gồm: khó khăn trong việc bố trí đủ nguồn vốn cho nền kinh tế; mất cân đối nguồn vốn; áp lực chi phí vốn gia tăng; sức ép về ngoại tệ và tỷ giá; cùng những vướng mắc liên quan đến tài sản bảo đảm và quy hoạch địa phương. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, với hàng loạt dự án quy mô lớn chuẩn bị triển khai, nguồn tích lũy trong nước sẽ khó đáp ứng đủ nhu cầu vốn. Vì vậy, Việt Nam cần tính đến việc huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài.
Chủ tịch Vietcombank đề xuất Bộ Tài chính nghiên cứu phát hành trái phiếu quốc tế trong bối cảnh uy tín quốc gia đã được cải thiện đáng kể, qua đó có thể huy động vốn với chi phí thấp hơn so với việc từng doanh nghiệp tự phát hành.
Lãi suất có thể chỉ giảm nhẹ ở một số phân khúc
Các tổ chức phân tích và chuyên gia kinh tế đều có chung nhận định rằng khả năng giảm mạnh mặt bằng lãi suất trong nửa cuối năm là không cao. Theo Công ty Chứng khoán ACBS, lãi suất huy động có thể tăng thêm khoảng 0,2-0,5 điểm phần trăm trong quý III khi nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh bước vào giai đoạn cao điểm.
Trong khi đó, VNDIRECT cho rằng mặt bằng lãi suất khó giảm sớm do tăng trưởng tín dụng tiếp tục cao, đồng thời Kho bạc Nhà nước dự kiến phát hành lượng lớn trái phiếu Chính phủ, tạo thêm áp lực cạnh tranh đối với dòng tiền trên thị trường. Ở góc nhìn tích cực hơn, Chứng khoán KBSV nhận định áp lực thanh khoản nhiều khả năng đã đạt đỉnh và đang xuất hiện tín hiệu cải thiện từ đầu quý III khi khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động dần thu hẹp.
Theo KBSV, lãi suất huy động có thể duy trì ở vùng cao trong quý III và giảm nhẹ từ đầu quý IV/2026 nhờ một số yếu tố hỗ trợ như giá dầu thế giới hạ nhiệt, tỷ giá ổn định, NHNN có thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản, cùng với hiệu quả từ các chính sách điều hành nhằm giảm áp lực huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và các chính sách hỗ trợ tăng trưởng được kỳ vọng sẽ cải thiện hiệu quả phân bổ dòng vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, theo chuyên gia, lãi suất cho vay cũng sẽ giảm với độ trễ nhất định do các ngân hàng cần thời gian hấp thụ chi phí vốn đầu vào đã tăng trước đó. Xu hướng giảm, nếu có, sẽ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, xuất khẩu, hạ tầng và các ngành tạo động lực tăng trưởng.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng mặt bằng lãi suất hiện cao hơn trước do nhiều nguyên nhân, trước hết là nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng mạnh khi mục tiêu tăng trưởng được nâng lên. Ông cũng lưu ý sự cạnh tranh của nhiều kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, tài sản số hay khởi nghiệp đã buộc các ngân hàng phải tăng sức hấp dẫn của tiền gửi để giữ nguồn vốn.
TS. Cấn Văn Lực nhận định: “Lãi suất thời gian tới sẽ không tăng thêm, song nếu giảm cũng chỉ giảm nhẹ ở một số phân khúc, dự án ưu tiên hoặc nhóm khách hàng tốt, song rất khó kỳ vọng lãi suất sẽ giảm mạnh, quay trở lại mức thấp như trước đây”. Theo ông, trong bối cảnh lãi suất không còn ở vùng thấp, doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng cơ cấu tài chính, cân đối hợp lý giữa vốn vay và vốn tự có nhằm hạn chế rủi ro dòng tiền trong trung và dài hạn.
Ở góc độ khác, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC), dự báo lãi suất cho vay trong 6 tháng cuối năm chủ yếu sẽ duy trì ổn định, chỉ có thể giảm khoảng 0,3-0,5%/năm đối với một số khách hàng tốt và lĩnh vực ưu tiên. Theo ông Nguyễn Hữu Huân, dư địa giảm lãi suất điều hành hiện không còn nhiều do phải cân đối với áp lực tỷ giá, dòng vốn quốc tế, yêu cầu duy trì sức hấp dẫn của tiền gửi cũng như xu hướng nợ xấu gia tăng khiến các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng.
Vị chuyên gia này cho rằng dư địa giảm chi phí vốn trong thời gian tới sẽ đến nhiều hơn từ các giải pháp phi lãi suất như chuyển đổi số để tiết giảm chi phí vận hành, tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng , mở rộng các chương trình bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các chính sách hỗ trợ lãi suất có mục tiêu từ ngân sách nhà nước.