Tại sao Việt Nam không thể “phóng tay” nới lỏng tiền tệ?

16/02/2021 14:04
Không nằm ngoài xu thế chung trên thế giới, ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã chủ động và tích cực nới lỏng chính sách tiền tệ như được thể hiện qua ba đợt cắt giảm lãi suất điều hành trong năm trước nhằm đối phó với các tác động của đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, điều khác biệt giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là các nước phương Tây, là ở mức độ nới lỏng. Trong các đợt hạ lãi suất ở Việt Nam, NHNN thường chỉ cắt giảm 0,5 điểm phần trăm. Và hiện tại thì các mức lãi suất điều hành của Việt Nam vẫn ở mức khá cao so với thế giới.

Trong khi đó, ở phương Tây, không chỉ cắt giảm lãi suất điều hành về sát 0, ngân hàng trung ương của nhiều nước còn đã và đang tiến hành thêm biện pháp nới lỏng định lượng – mua trái phiếu của Chính phủ và doanh nghiệp – để cấp tập tung thêm tiền ra nền kinh tế nhằm chặn đà rơi của tăng trưởng và cứu vãn việc làm.

Trước thực tế này, nhiều người thấy khó hiểu tại sao Việt Nam lại có vẻ thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ như vậy, và cũng đã có không ít người kiến nghị NHNN nới lỏng tiền tệ (hạ lãi suất) hơn nữa, thậm chí cũng nên nới lỏng định lượng như các nước khác.

Để lý giải nguyên nhân của sự thận trọng nói trên, ta cần biết những khác biệt cơ bản trong bối cảnh kinh tế giữa Việt Nam và các nước khác, nhất là các nước phát triển phương Tây.

Khác biệt trước tiên là khoảng cách chênh lệch giữa tăng trưởng GDP tiềm năng và tăng trưởng GDP thực tế. Do đại dịch, tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước đã bị âm trầm trọng trong các quý của năm qua, làm doãng rộng chênh lệch giữa tăng trưởng tiềm năng và tăng trưởng thực tế. Theo lý thuyết, nếu chênh lệch này càng doãng rộng thì lạm phát (như là hậu quả của việc tăng cung tiền) càng khó xảy ra hơn.

Tăng trưởng âm cũng có nghĩa là nền kinh tế sẽ có nhiều rủi ro hơn trong việc phục hồi tăng trưởng vì năng lực sản xuất đã bị phá hủy một phần bởi suy thoái, nhiều doanh nghiệp sẽ không thể mở cửa trở lại, nhiều người lao động sẽ không (thể) làm việc trở lại, và những nguồn lực bị bỏ phí, không sử dụng trong suy thoái, như thiết bị, kỹ năng người lao động sẽ trở nên lạc hậu, "quá đát" v.v... Đại dịch cũng buộc nhiều người phải ở nhà, hoặc bị thất nghiệp, bị giảm thu nhập. Trong khi đó, tồn kho tại các doanh nghiệp tăng lên vì người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu.

Trong bối cảnh suy thoái này, dù các nước tăng mạnh cung tiền thì cũng chỉ có một phần trong số này được cho vay hoặc chi tiêu. Và cho dù vậy thì việc cho vay/chi tiêu này cũng không thể đẩy tổng cầu tăng vọt một cách tương đối so với tổng cung để có thể dẫn đến lạm phát như theo lý thuyết. Thay vào đó, một phần lớn số tiền này mới tung ra này sẽ nằm tắc tại ngân hàng, trên bảng cân đối tài sản của chúng hoặc trong tài khoản tiết kiệm của người tiêu dùng (nếu có/còn).

Ngược lại, tuy cũng bị tác động từ đại dịch nhưng tác động này ở Việt Nam nhìn chung là nhỏ hơn ở các nước khác nên Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng dương, và thuộc hạng cao trên thế giới. Do đó, chênh lệch giữa tăng trưởng tiềm năng và thực tế tuy có doãng rộng hơn trước đây nhưng chắc chắn ở mức nhỏ hơn nhiều so với hầu hết các nước khác trên thế giới. Tương tự như vậy là tổng cầu tại Việt Nam không những không bị suy giảm mạnh như ở nhiều nước mà còn tăng lên đáng kể (do tăng trưởng GDP dương).

Như vậy, nếu Việt Nam tăng mạnh và cấp tập cung tiền với mức độ như ở nhiều nước thì áp lực lạm phát sẽ tăng mạnh. Trên thực tế, như đã thấy, dù nới lỏng tiền tệ ở Việt Nam chỉ có mức độ thận trọng như vậy nhưng lạm phát của Việt Nam đã và vẫn đứng ở mức khá cao so với thế giới (trên 3%/năm).

Khác biệt đáng kể thứ hai là về kỳ vọng lạm phát – là một yếu tố cũng có liên quan đến thực trạng tăng trưởng kinh tế. Lạm phát sẽ khó mà nổ ra nếu người tiêu dùng không tin nó sẽ nổ ra. Suy thoái càng trầm trọng thì lòng tin tiêu dùng càng suy giảm. Đồng hành với lòng tin tiêu dùng suy giảm là kỳ vọng lạm phát cũng bị suy yếu đi do triển vọng phục hồi kinh tế mù mịt hơn.

Lạm phát của Mỹ đã nhích lên hồi tháng 1 năm nay nhưng nó vẫn còn thấp xa so với mức mà Fed kỳ vọng. Ở Trung Quốc, lạm phát bất ngờ giảm 0,3% trong tháng 1 so với cùng kỳ năm trước. Còn các quan chức Nhật thì nhiều lúc cho thấy họ như đã đầu hàng trong việc đạt được mục tiêu đẩy lạm phát ở nước này lên 2%/năm. Ngay ở trong khu vực Đông Nam Á, nơi mà tăng trưởng cũng như lạm phát thường cao hơn các nước đã phát triển, giá cả thậm chí cũng sụt giảm ở một số nước.

Trong khi đó, như đã thấy, giá cả ở Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trong năm qua và bước vào năm nay, dù ở mức bị kiềm chế hơn. Điều này cho thấy kỳ vọng lạm phát là một điều rất thật ở Việt Nam và nó rất nhạy cảm với đường hướng của chính sách tiền tệ của NHNN – là một điều đã được kiểm chứng trong quá khứ.

Khác biệt thứ ba là về tốc độ tăng lương. Ở các nước phát triển, tiền lương của nhiều công nhân trong nhiều ngành không tăng tương ứng với lạm phát trong nhiều năm qua. Đây là kết quả của toàn cầu hóa và outsourcing việc sản xuất sang các nước đang phát triển có tiền lương rẻ hơn. Do thu nhập của một bộ phận người làm công ăn lương không tăng tương ứng nên tổng cầu cũng sẽ không tăng tương ứng với nới lỏng tiền tệ của ngân hàng trung ương.

Ngược lại, ở Việt Nam, tiền lương nhìn chung được gắn chặt hơn với lạm phát, như được minh họa qua việc điều chỉnh thường xuyên lương tối thiểu. Do đó, áp lực lên lạm phát từ phía tổng cầu thường có xu hướng lớn hơn ở Việt Nam so với các nước khác.

Khác biệt thứ tư là ở khối nợ của doanh nghiệp. Tuy mang tiếng đã được hưởng lợi lớn từ các đợt nới lỏng tiền tệ cũng như nới lỏng định lượng kéo dài trong nhiều năm qua, nhưng, ví dụ, như ở Mỹ, tổng nợ của doanh nghiệp Mỹ mới chỉ tương đương với gần 75% GDP năm 2019, theo số liệu của IMF. Số liệu tương ứng từ IMF cho Việt Nam không tồn tại, nhưng số liệu từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam cho thấy tỷ lệ nợ phải trả so với GDP của doanh nghiệp Việt Nam là lớn hơn nhiều.

Nếu các số liệu so sánh trên là tương thích với nhau ở mức độ nhất định nào đó thì có thể thấy các doanh nghiệp tại Việt Nam đang nợ nần nhiều hơn nhiều so với các nước phát triển. Theo lý thuyết, năng suất của một đồng vốn tạo ra GDP hoặc thu nhập sẽ giảm đi nếu lượng vốn tăng lên. Và do năng suất vốn giảm nên đồng hành với sự tăng lên của GDP do tăng cung tiền sẽ là sự tăng lên của áp lực lạm phát. Điều này có nghĩa là để đạt cùng một hiệu ứng kích thích tăng trưởng như nhau thông qua cung cấp đủ vốn cho doanh nghiệp thì chính sách tiền tệ ở Việt Nam phải được nới lỏng ở mức lớn hơn nhiều so với phương Tây, trong khi lại gây ra áp lực lạm phát lớn hơn.

Tóm lại, do những khác biệt lớn về cấu trúc và hiện trạng kinh tế nên Việt Nam không thể "đua trend" với các nước phát triển trong việc nới lỏng tiền tệ, kích thích tăng trưởng nếu không muốn phải đối mặt với rủi ro lạm phát tăng vọt giai đoạn hậu kích thích.

Tin mới

Tỷ phú Phạm Nhật Vượng lập kỷ lục bàn giao 175.099 xe ô tô điện tại Việt Nam năm 2025
11 giờ trước
Ngày 13/01/2026, VinFast chính thức lập kỷ lục doanh số chưa từng có trên thị trường ô tô Việt Nam khi bàn giao tổng cộng 175.099 xe ô tô điện các loại cho khách hàng trong năm 2025, khẳng định vững chắc vị thế hãng xe có thị phần số 1 Việt Nam trong 15 tháng liên tiếp.
Ngân hàng nước ngoài đầu tiên lên kế hoạch xây trụ sở ở Trung tâm tài chính quốc tế TPHCM
10 giờ trước
UOB có kế hoạch xây dựng tòa nhà trụ sở ngân hàng tại khu vực Trung tâm tài chính quốc tế ở TPHCM với 1.500 nhân sự.
Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026
10 giờ trước
Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV, với nền tảng ấn tượng của năm 2025, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đột phá về thể chế, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện; các động lực tăng trưởng được làm mới và phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế Việt Nam năm 2026 có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng.
Khủng hoảng BĐS tại Thái Lan: Suy thoái kéo dài, loạt doanh nghiệp biến thành 'công ty ma'
10 giờ trước
Nhiều nhà quan sát nghi ngờ khả năng thị trường có thể phục hồi trong vòng ba năm tới, khi nợ hộ gia đình vẫn ở mức cao, các ngân hàng ngày càng thận trọng trong cho vay và tăng trưởng kinh tế được dự báo yếu ớt.
Thương hiệu Trung Quốc duy nhất xây nhà máy ở Việt Nam ghi nhận doanh số xe NEV tăng gấp 5 lần
9 giờ trước
Doanh số NEV của Omoda & Jaecoo vượt 200.000 xe, tăng gấp 5 lần so với năm trước và chiếm hơn 50% tổng doanh số toàn cầu.

Tin cùng chuyên mục

Ổn định giá cả: Yếu tố then chốt hỗ trợ mục tiêu GDP 10%
6 giờ trước
Theo các chuyên gia, năm 2026 lạm phát được dự báo duy trì quanh 3,5%, nhờ kiểm soát chính sách tiền tệ, tài khóa và quản lý giá hiệu quả. Giá thực phẩm, năng lượng và vật liệu xây dựng được dự báo ổn định, trong khi tỷ giá, lãi suất và chi phí logistics được điều hành thận trọng.
Hé lộ mức thưởng Tết khủng tại Điện máy Xanh: Quỹ 1.200 tỷ, nhân sự xuất sắc nhận 200 triệu
5 giờ trước
Chính sách thưởng Tết năm nay của công ty Cổ phần đầu tư Điện máy Xanh, bao gồm các chuỗi Thế Giới Di Động, Điện máy Xanh và Topzone đang là tâm điểm chú ý khi doanh nghiệp dự kiến trích tới 1.200 tỷ đồng cho quỹ thưởng
Tổng thống Mỹ dọa áp thuế các quốc gia giao thương với Iran
8 giờ trước
Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo bất kỳ quốc gia nào giao thương với Iran đều sẽ phải đối mặt với mức thuế quan 25% nếu giao dịch với Mỹ. Tuyên bố này được đưa ra khi Washington đang cân nhắc các phương án phản ứng với tình hình ở Iran, nơi các cuộc biểu tình chống chính phủ lan rộng ở khắp các thành phố.
Ứng dụng “Quà tặng VIP” cập nhật tính năng vay nhanh đến 50 triệu đồng
8 giờ trước
Tính năng vay nhanh trực tuyến sẽ giúp khách hàng tiếp cận giải pháp tài chính chính thống thuận tiện hơn ngay trên điện thoại.