Từ ngày 1/1/2022: Đề xuất tăng 15 % lương hưu, trợ cấp BHXHicon

Bộ LĐ-TB&XH đề xuất điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng từ ngày 1/1/2022 tăng thêm 15 % so với mức của tháng 12/2021. Dự thảo đang được lấy ý kiến của nhiều bộ, ban, ngành.

Bộ LĐ-TB&XH đề xuất điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng từ ngày 1/1/2022 tăng thêm 15 % so với mức của tháng 12/2021. Dự thảo đang được lấy ý kiến của nhiều bộ, ban, ngành.

 

Theo dự thảo Nghị định đang được Bộ LĐ-TB&XH lấy ý kiến trước khi trình Chính phủ, từ ngày 1/1/2022, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sẽ điều chỉnh tăng thêm 15% so với mức áp dụng của tháng 12/2021. Dự kiến sẽ có 8 nhóm đối tượng được thu hưởng từ chính sách này.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng quy định người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh theo quy định trên mà còn thấp hơn 2.500.000 đồng/tháng thì mức điều chỉnh bổ sung.

Từ ngày 1/1/2022: Đề xuất tăng 15 % lương hưu, trợ cấp BHXH
Lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng dự kiến tăng thêm 15 % từ 1/1/2022. (Ảnh: Hoàng Mạnh)

Cụ thể, tăng thêm 200.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2.300.000 đồng/người/tháng trở xuống; tăng lên bằng 2.500.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2.300.000 đồng/người/tháng đến dưới 2.500.000 đồng/người/tháng.

Theo Bộ LĐ-TB&XH, mức đề xuất tăng 15 %, nhằm đảm bảo bù đắp trượt giá để duy trì giá trị của khoản lương hưu, trợ cấp hiện hưởng của người thụ hưởng do tác động từ yếu tố lạm phát và chia sẻ một phần thành quả từ phát triển kinh tế của năm 2019, 2020 và năm 2021 do trong năm 2020 và năm 2021 không thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Đồng thời, mức điều chỉnh trên thấp hơn mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong các năm 2019, 2020 và năm 2021 (khoảng gần 17%), như vậy phù hợp với tốc độ tăng trưởng đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội.

Dự kiến 8 nhóm đối tượng được điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng 

Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.

Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206/CP ngày 30 tháng 5 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc.

Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.

Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương.

Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.  

Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

(Theo Dân Trí)

Tin mới

ACB vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì nợ xấu ở mức thấp nhất hệ thống và củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững
6 giờ trước
Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) ghi dấu ấn với tổng tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất hệ thống và tiếp tục củng cố nền tảng tài chính vững chắc. Đây là tiền đề quan trọng để ACB bước vào chu kỳ tăng trưởng mới theo định hướng phát triển bền vững giai đoạn 2025–2030.
Giám đốc Ban Quản lý dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được bầu vào HĐQT ACV
5 giờ trước
ACV vừa thống nhất bầu ông Nguyễn Tiến Việt vào vị trí thành viên HĐQT của công ty sau khi miễn nhiệm chức danh này đối với ông Đào Việt Dũng.
Tối 27-1, giá vàng nhẫn bất ngờ tăng nhanh
5 giờ trước
Giá vàng nhẫn tăng nhanh hơn vàng miếng SJC trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm, nhu cầu mua vào vẫn cao.
Nhiều ngân hàng công bố lợi nhuận tỉ đô
5 giờ trước
Ngân hàng có hoạt động kinh doanh tích cực, đạt lợi nhuận cao sẽ có nguồn lực cho vay nhiều hơn, thêm dư địa ổn định lãi suất
Báo châu Âu tán dương: Việt Nam đã lập nên kỳ tích
5 giờ trước
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã ghi dấu một hành trình phát triển kinh tế đặc biệt trong lịch sử hiện đại.

Tin cùng chuyên mục

Từ 1-6 dừng bán xăng khoáng RON 95, có lo thiếu E10?
3 giờ trước
Từ ngày 1-6-2026, xăng E10 sẽ được sử dụng trên phạm vi toàn quốc, theo đó thị trường sẽ không còn bán xăng khoáng RON 95.
Thông tin người mua vé máy bay online dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 cần chú ý
19 giờ trước
Người dân cần nắm rõ các lưu ý khi đặt vé online, kiểm tra thông tin chuyến bay và phương thức thanh toán để bảo đảm quyền lợi và kế hoạch đi lại dịp Tết.
VietABank bứt phá lợi nhuận 1.623 tỷ đồng, cổ phiếu VAB chính thức được cấp margin
1 ngày trước
Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025, VietABank ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực trên hầu hết các chỉ tiêu trọng yếu, từ quy mô tài sản, huy động vốn, tín dụng đến hiệu quả sinh lời, trong khi chất lượng tài sản tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn.
Tỷ phú Phạm Nhật Vượng công bố bán hơn 400.000 xe máy điện năm 2025 - 1 dòng xe trở thành 'quốc dân' mới
1 ngày trước
Với 406.453 xe bán ra, VinFast chính thức dẫn đầu thị trường xe máy điện Việt Nam năm 2025.