Lộ trình áp dụng IFRS
IFRS là viết tắt của cụm từ “International Financial Reporting Standards” – tức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế. Đây là một bộ các chuẩn mực và nguyên tắc kế toán được thiết kế, phát triển và ban hành bởi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) – một tổ chức phi lợi nhuận có uy tín toàn cầu.
Mục tiêu của IFRS là xây dựng một khuôn khổ kế toán thống nhất trên toàn thế giới, nhằm đảm bảo báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trở nên minh bạch, nhất quán và dễ so sánh. Điều này không chỉ giúp các kế toán viên, kiểm toán viên mà cả nhà đầu tư dễ dàng phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, bất kể doanh nghiệp đó hoạt động ở quốc gia nào.
Theo Quyết định 345/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam được chia thành các giai đoạn rõ rệt. Cụ thể, giai đoạn 2020 - 2021 là giai đoạn chuẩn bị, bao gồm bản dịch IFRS, đào tạo nhân lực và hoàn thiện pháp lý.
Giai đoạn 2022 - 2025 là thời kỳ áp dụng tự nguyện đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp đại chúng lớn và doanh nghiệp FDI.
Giai đoạn sau năm 2025, việc áp dụng IFRS sẽ trở thành bắt buộc đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp đại chúng lớn.
Sự chuyển đổi này dự kiến mang lại nhiều lợi ích thiết thực như tăng tính minh bạch, độ tin cậy, cải thiện quản trị nội bộ và đặc biệt là tăng khả năng huy động vốn quốc tế cũng như khả năng so sánh, định giá.
Tuy nhiên, do hiện tại vẫn chưa có Thông tư / Nghị định cụ thể nên Mirae Asset kỳ vọng giai đoạn 2027-2029 sẽ áp dụng IFRS đối với Doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn.
Những tác động đến lợi nhuận: FPT và HVN là điểm sáng
Đánh giá tác động sơ bộ tại thời điểm chuyển đổi VAS qua IFRS với các doanh nghiệp phi tài chính (không bao gồm ngành bất động sản) trong nhóm 30 mã vốn hóa lớn nhất thị trường (bao gồm: VJC, HVN, HPG, FPT, GAS, BSR, VNM, MWG, MSN, GEE).
Mirae Asset giả định chính khi chuyển đổi: Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác áp dụng phương pháp giá trị hợp lý vào lãi lỗ trước thuế (FVTPL) và áp dụng giá niêm yết (nếu có). TSCĐ hữu hình áp dụng phương pháp đánh giá lại và giả định chênh lệch tăng giá trị hợp lý tăng 10%, định giá của nhiều doanh nghiệp sẽ có sự xáo trộn.
Sử dụng số liệu BCTC hợp nhất 2025 (chưa kiểm toán), trường hợp hưởng lợi tiêu biểu nhất từ việc chuyển đổi này là FPT. Việc đánh giá lại các khoản đầu tư góp vốn (cụ thể là vào TPB và FTS) theo phương pháp giá trị hợp lý ghi nhận qua lãi lỗ (FVTPL) giúp Lợi nhuận trước thuế (LNTT) của FPT ước tính tăng tới 30%.
Đồng thời, Vốn chủ sở hữu (VCSH) của doanh nghiệp cũng được điều chỉnh tăng thêm 12%. Chỉ số P/E điều chỉnh giảm 23% và P/B giảm 11%.
Một trường hợp đáng chú ý khác là Vietnam Airlines (HVN). Tài sản cố định hữu hình có thể được ghi nhận theo phương pháp đánh giá lại thay vì giá gốc. VCSH HVN tăng từ chênh lệch giá trị hợp lý tài sản cố định hữu hình, VCSH của HVN sẽ tăng khoảng 16%.
Tác động này mang ý nghĩa rất lớn đối với HVN bởi nền vốn chủ sở hữu của hãng hàng không này hiện đang rất thấp (chỉ chiếm khoảng 9% tổng tài sản và đang gánh lỗ lũy kế lớn). Nhờ đó, định giá P/B của HVN cũng sẽ giảm khoảng 14%.
Những thay đổi phương pháp hạch toán ít tác động lên lợi nhuận
Bên cạnh các yếu tố làm thay đổi định giá, IFRS cũng mang đến những sự thay đổi lớn trong cách hạch toán ở nhiều khoản mục nhưng không gây tác động trọng yếu đến kết quả kinh doanh tại thời điểm chuyển đổi.
Hàng tồn kho
Theo IFRS, chiết khấu thanh toán sẽ được ghi nhận giảm trừ trực tiếp vào giá trị hàng tồn kho mua vào, thay vì ghi nhận là doanh thu tài chính như VAS. Ngoài ra, các loại hàng tồn kho dùng để sản xuất (nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ…) chỉ lập dự phòng khi giá bán các thành phẩm sản xuất từ các loại vật tư đó giảm sút trên thị trường.
Tác động là chiết khấu thanh toán loại trừ khỏi doanh thu tài chính, dẫn đến chênh lệch giảm lợi nhuận tại thời điểm chuyển đổi. Giảm giá vốn hàng bán khi hàng tồn kho được bán ra. Hoàn nhập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… nếu đang trích lập quá thận trọng.
Các DN ảnh hưởng:
Phải thu/Phải trả: Các khoản phải thu khách hàng, phải thu về cho vay, phải thu khác hoặc Các khoản phải trả người bán, phải trả khác có tính chất hoàn trả khi kết thúc thời hạn/hợp đồng được đo lường và hạch toán theo Phương pháp Giá trị phân bổ (Amortised costs) và Phương pháp lãi suất thực (Effective Interest Rate - EIR).
Tác động đến khoản phải thu nếu lãi suất hợp đồng lớn hơn EIR sẽ phát sinh chênh lệch tăng doanh thu ròng. Lãi suất hợp đồng nhỏ hơn EIR sẽ phát sinh chênh lệch tăng chi phí ròng
Đối với khoản phải trả, lãi suất hợp đồng lớn hơn EIR phát sinh chênh lệch tăng chi phí ròng còn lãi suất hợp đồng nhỏ hơn EIR phát sinh chênh lệch tăng doanh thu ròng.
Tuy nhiên, chênh lệch doanh thu/chi phí ròng dự phóng khoảng 0,1-1% tổng giá trị điều chỉnh. Kết quả điều chỉnh các khoản phải thu và phải trả thường có tính chất bù trừ lẫn nhau. Vay ngân hàng và trái phiếu cần điều chỉnh tương tự Phải trả.
Tuy nhiên, đối với các khoản có thời hạn thanh toán gốc/lãi định kỳ hàng năm, sự khác biệt giữa LSHĐ và EIR không quá chênh lệch như các khoản chiếm dụng vốn thương mại hoặc cho vay/đặt cọc mang yếu tố hỗ trợ tài chính. Vì vậy, chênh lệch điều chỉnh là không trọng yếu.
Các DN ảnh hưởng:
"Ẩn số" từ chi phí đại tu và thuê hoạt động
Ngoài ra, còn có các khoản mục dự kiến có sự thay đổi đáng kể trong phương pháp hạch toán nhưng không có thông tin để đánh giá.
Chi phí sửa chữa lớn/đại tu: IFRS ghi nhận là TSCĐ hữu hình thay vì chi phí trả trước dài hạn như VAS, khấu hao theo chu kỳ đến lần đại tu tiếp theo và ghi giảm giá trị còn lại của lần đại tu cũ khi đến kỳ đại tu mới.
Tác động dự kiến khiến chênh lệch tăng/giảm chi phí khấu hao nếu thời gian phân bổ theo VAS có sự khác biệt với thời gian còn lại của chu kỳ đại tu hiện tại. Trường hợp chu kỳ đại tu thực tế ngắn hơn ước tính ban đầu, phần chưa khấu hao hết sẽ ghi toàn bộ chi phí trong kỳ trước khi thực hiện đại tu mới.
Hiện nay, chi phí bảo dưỡng, kiểm tra và sửa chữa lớn/Tổng tài sản 2025 của Vietjet là 4,5% và HVN là 3,3%.
Thuê hoạt động: IFRS ghi nhận Quyền sử dụng tài sản và Nghĩa vụ nợ thuê tài sản trong khi VAS không ghi nhận tài sản và nợ. IFRS ghi nhận chi phí khấu hao và chi phí tài chính thay vì chi phí hoạt động (VAS). Tác động sẽ khiến tài sản và nợ phải trả tăng dẫn đến tỷ lệ nợ tăng, EBITDA tăng và EV/EBITDA giảm. Các doanh nghiệp Mirae Asset đánh giá có thể chịu ảnh hưởng là chuỗi tiêu dùng và Bán lẻ VNM, MWG, MSN.
Ảnh: Mirae Asset