Thị Trường Hàng Hóa

Ai đang nắm con ‘át chủ bài’ Ethanol để sản xuất 1 tỷ lít xăng E5, E10 mỗi tháng?

Ai đang nắm con ‘át chủ bài’ Ethanol để sản xuất 1 tỷ lít xăng E5, E10 mỗi tháng? - Ảnh 1

Đồ họa Cafebiz.

80% nguồn cung Ethanol vẫn phụ thuộc nhập khẩu

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết từ ngày 1-30/6, tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học (E5 và E10 ) đạt khoảng hơn 1 tỷ lít. Trong đó, xăng E10 chiếm gần 95% tổng lượng tiêu thụ; xăng E5 đạt khoảng 5%.

Như vậy, so với lượng xăng khoáng sử dụng trước đây là khoảng 1 tỷ lít/tháng, con số tiêu thụ xăng sinh học là tương đương.

Đối với năng lực sản xuất E10 0 trong nước, theo số liệu từ Bộ Công thương, trong 4 nhà máy sản xuất etanol đang hoạt động, chỉ có 3 nhà máy sản xuất etanol (E10 0) cho phối trộn xăng sinh học E5, E10 gồm nhà máy Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai và Nhiên liệu sinh học Dung Quất.

3 nhà máy trên có tổng công suất thiết kế 23.300 tấn/tháng, công suất vận hành hiện nay 15.666 tấn/tháng, tương đương khoảng 67,2% công suất thiết kế.

Khi các nhà máy trong nước chưa gia tăng nguồn E10 0 nội địa, Việt Nam bắt buộc phải nhập khẩu để phục vụ pha chế, phối trộn E10 và E5.

Theo số liệu tổng hợp từ các doanh nghiệp đầu mối, trong tháng 6, tổng nguồn E10 0 đạt khoảng 121.895 m³, gồm 89.383 m³ nhập khẩu và 32.512 m³ mua trong nước. Như vậy Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 73% lượng Ethanol.

Sang tháng 7, tổng nguồn dự kiến đạt 103.700 m³, gồm 81.500 m³ nhập khẩu và 22.200 m³ mua trong nước. Như vậy lượng nhập khẩu tăng lên gần 80%.

Trong tháng 6, nhu cầu phối trộn khoảng 92.000-100.000 m³/tháng, đạt khoảng 122-133% nhu cầu; tháng 7 đạt khoảng 104-113% nhu cầu, vẫn đáp ứng yêu cầu phối trộn nhưng biên dự phòng đã giảm đáng kể.

Về xăng khoáng nền mua trong nước và nhập khẩu tháng 6 năm nay đạt 982.616 m3 đáp ứng đủ nhu cầu pha chế, phối trộn xăng sinh học và nhu cầu tiêu thụ trên thị trường.

Về doanh nghiệp, Petrolimex là đơn vị có quy mô nguồn lớn nhất, với 62.000 m³ tháng 6 và 55.000 m³ tháng 7, chiếm hơn một nửa nguồn cung E10 0.

Tiếp đến là PVOIL với 30.690 m³ tháng 6 và 18.200 m³ tháng 7, chiếm 17,6%.

Các doanh nghiệp khác như Thanh Lễ, Hải Linh, Saigon Petro, Anh Phát, Xăng dầu Quân đội chiếm 24-29%, góp phần đa dạng hóa nguồn cung.

Không dễ mở rộng nguồn cung nội địa

Trong bối cảnh nhu cầu ethanol dự kiến tăng mạnh khi mở rộng sử dụng xăng E10 , sự việc phụ thuộc 80% nguồn nhập khẩu có thể khiến thị trường đối mặt với rủi ro nếu xảy ra biến động về nguồn cung, giá cả hoặc logistics quốc tế. Điều này cũng đặt ra bài toán tăng cường khả năng chủ động về nguồn nguyên liệu trong nước.

Trong Tọa đàm “Xăng E10 : Hiểu đúng, dùng tốt” mới đây, PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP.HCM cho biết nếu lộ trình tiếp tục được nâng lên E15, E20 trong những năm tới, thị trường ethanol sẽ ngày càng rộng mở, tạo đầu ra ổn định cho các vùng nguyên liệu như sắn, mía và thúc đẩy ngành chế biến sâu phát triển.

Tuy nhiên, cơ hội này cũng đi kèm không ít bài toán cần giải. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào ethanol thế hệ thứ nhất được sản xuất từ cây trồng, việc mở rộng vùng nguyên liệu cần được quy hoạch chặt chẽ để tránh cạnh tranh với đất trồng lương thực. Đây là vấn đề mà nhiều quốc gia đã phải tính toán khi phát triển nhiên liệu sinh học ở quy mô lớn.

Về lâu dài, hướng đi bền vững hơn là chuyển sang ethanol thế hệ thứ hai (2G), tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, trấu hay vỏ cà phê.

Với lượng phụ phẩm rất lớn phát sinh mỗi năm, Việt Nam được đánh giá có lợi thế đáng kể để phát triển lĩnh vực này. Không chỉ giảm phụ thuộc vào cây trồng làm nguyên liệu, mô hình này còn góp phần giảm phát thải và nâng cao giá trị của ngành nông nghiệp.

Dù vậy, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là chi phí công nghệ còn cao, đòi hỏi đầu tư mạnh hơn cho nghiên cứu và thương mại hóa.

Theo ông An, để ngành nhiên liệu sinh học có thể phát triển bền vững sau năm 2030, Việt Nam cần đồng thời làm chủ công nghệ sản xuất ethanol thế hệ mới, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các trường đại học, đồng thời chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực như công nghệ sinh học, đánh giá vòng đời sản phẩm hay tín chỉ carbon.

Kinh nghiệm từ Brazil và Thái Lan cũng cho thấy, công nghệ hay nguồn nguyên liệu chưa phải yếu tố quyết định. Điều quan trọng hơn là một chiến lược phát triển đủ dài hạn và một cơ chế chính sách ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.

“Điều kiện quan trọng nhất để ngành nhiên liệu sinh học phát triển là sự ổn định và nhất quán của cơ chế, chính sách. Các dự án sản xuất ethanol thường có vòng đời đầu tư từ 15-20 năm, trong khi vùng nguyên liệu cần nhiều năm để hình thành và phát triển. Do đó, doanh nghiệp chỉ mạnh dạn đầu tư khi có một lộ trình rõ ràng và môi trường chính sách ổn định”, PGS.TS Ngô Thanh An nhấn mạnh.


Tags: E10
person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!