Để văn hóa, bản sắc dân tộc đưa du lịch Việt cất cánh

Văn hóa là nguồn cội, du lịch chính là "kênh dẫn vốn"

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (ban hành ngày 22.8.2026) khẳng định công nghiệp văn hóa không chỉ là một lĩnh vực sáng tạo độc lập mà là động lực trực tiếp gia tăng giá trị cho ngành du lịch . Việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản, nghệ thuật truyền thống, điện ảnh, âm nhạc và ẩm thực được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia. Du lịch không thể phát triển bứt phá nếu thiếu đi "linh hồn" là văn hóa ; và ngược lại, văn hóa chỉ thực sự sống động khi được đưa vào chuỗi giá trị kinh tế thông qua du lịch .

TS Đoàn Mạnh Cương (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội) đánh giá: Nếu như trước đây, văn hóa chủ yếu được nhìn nhận là nền tảng tinh thần của xã hội thì ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế sáng tạo, văn hóa đã trở thành nguồn lực nội sinh, là tài sản chiến lược của quốc gia, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng sức cạnh tranh và quảng bá hình ảnh đất nước. Nghị quyết số 80 NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành ngày 7.1.2026 đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và tư duy lãnh đạo về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Lần đầu tiên, văn hóa và con người được xác định là "nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước".

Trong khi đó, du lịch , với vai trò là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, chính là lĩnh vực có khả năng chuyển hóa trực tiếp các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế. Sự đồng hành giữa công nghiệp văn hóa và du lịch vì vậy không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới mà còn là lời giải quan trọng để Việt Nam kiến tạo động lực tăng trưởng mới, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Điều đáng chú ý, theo ông Đoàn Mạnh Cương, là quá trình hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa diễn ra đúng vào thời điểm ngành du lịch Việt Nam đang phục hồi mạnh mẽ và khẳng định vai trò là điểm sáng của nền kinh tế. Quan trọng hơn, du lịch đang chứng minh vai trò là ngành kinh tế tổng hợp có sức lan tỏa rất lớn. Không chỉ trực tiếp tạo doanh thu, thúc đẩy tiêu dùng mà ngành du lịch còn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa , nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, đồng thời chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, xanh và bền vững. Đó là sự gặp nhau về tư duy giữa hai nghị quyết với trọng tâm văn hóa tạo chiều sâu, bản sắc; du lịch tạo dòng chảy kinh tế để giá trị văn hóa lan tỏa.

Để văn hóa, bản sắc dân tộc đưa du lịch Việt cất cánh - Ảnh 1

Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 trở thành một trong 9 lễ hội đáng trải nghiệm nhất hành tinh

ẢNH: S.X

Ông Cường phân tích: Nghị quyết 26 xác định "lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh" của du lịch Việt Nam. Đây là cách tiếp cận quan niệm về lợi thế cạnh tranh quốc gia. Hạ tầng có thể đầu tư, công nghệ có thể mua, nhưng chiều sâu văn hóa của một vùng đất là thứ tích lũy qua lịch sử, được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ. Một làng nghề, một lễ hội, một món ăn chỉ thực sự trở thành tài sản du lịch khi được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại. Ngược lại, du lịch tạo ra "thị trường" cho văn hóa thể hiện, nghề truyền thống có thêm khách hàng, nghệ nhân có thêm người nghe, ngôi nhà truyền thống trở thành không gian đón khách mà vẫn giữ được hồn cốt. Đó chính là văn hóa bắt đầu tạo ra giá trị kinh tế mà không phải đánh đổi bản sắc.

Nói cách khác, nếu văn hóa là "nguồn vốn", du lịch chính là "kênh dẫn vốn" để nguồn lực đó quay lại nuôi dưỡng cộng đồng. Công nghiệp văn hóa và du lịch mở ra cơ hội chưa từng có để hình thành một hệ sinh thái kinh tế sáng tạo có sức lan tỏa mạnh mẽ. Công nghiệp văn hóa chính là "chìa khóa" để nâng cấp chuỗi giá trị gia tăng của ngành du lịch .

"Một bộ phim nổi tiếng có thể tạo nên một điểm đến mới; một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể trở thành thương hiệu quốc tế; một chương trình biểu diễn nghệ thuật đẳng cấp có thể giữ chân du khách thêm nhiều đêm; một không gian sáng tạo văn hóa có thể hình thành cả một hệ sinh thái tiêu dùng mới", TS Đoàn Mạnh Cương chỉ rõ.

"Mỏ vàng" tỉ USD

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hầu hết các quốc gia có ngành du lịch phát triển bứt phá đều sở hữu một nền công nghiệp văn hóa cực kỳ mạnh mẽ. Thay vì khai thác và bán thô tài nguyên thiên nhiên vốn hữu hạn, họ đã chuyển hướng chiến lược sang bán trải nghiệm văn hóa , bán bản sắc dân tộc và những giá trị sáng tạo được kết tinh qua hàng trăm năm lịch sử.

Minh chứng điển hình cho mô hình này là Nhật Bản, quốc gia đã nâng tầm các sản phẩm văn hóa như anime, manga, điện ảnh, kiến trúc, ẩm thực và lễ hội truyền thống thành thương hiệu quốc gia, thu hút hàng chục triệu lượt khách quốc tế mỗi năm. Theo ước tính từ Văn phòng Nội các Nhật Bản, du lịch hành hương anime mang lại khoảng 470 tỉ yen (tương đương khoảng 3,2 - 3,5 tỉ USD) mỗi năm cho kinh tế nội địa, bao gồm các khoản cho lưu trú, di chuyển, ẩm thực và dịch vụ tại các địa phương. Trong tổng số chi tiêu trên, riêng lượng tiền du khách quốc tế chi trả để mua sắm vật phẩm, quà lưu niệm liên quan đến anime tại các điểm đến ước đạt khoảng 38 tỉ yen (khoảng 260 - 300 triệu USD). Hiệp hội Hoạt hình Nhật Bản thông tin quy mô thị trường anime toàn cầu của Nhật Bản (bao gồm doanh thu bản quyền, streaming quốc tế, phim điện ảnh, game và vật phẩm thương mại) đạt khoảng 2.900 - 3.850 tỉ yen (tương đương 20 - 26 tỉ USD).

Tương tự, Hàn Quốc đã xây dựng thành công "Làn sóng Hallyu", biến âm nhạc, điện ảnh, thời trang, mỹ phẩm và nghệ thuật biểu diễn thành động lực then chốt thúc đẩy du lịch và xuất khẩu. Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc và Cơ quan Nội dung sáng tạo Hàn Quốc cho biết tổng kim ngạch xuất khẩu nội dung văn hóa Hàn Quốc đạt kỷ lục khoảng 13,2 - 14,16 tỉ USD. Báo cáo từ Ngân hàng T.Ư Hàn Quốc chỉ ra rằng Hallyu đóng vai trò là "chất xúc tác" kéo dòng khách quốc tế quay trở lại Hàn Quốc mạnh mẽ. Khảo sát cho thấy trên 50% du khách quốc tế chọn mua sắm mỹ phẩm và thời trang nội địa Hàn Quốc như một hoạt động trải nghiệm bắt buộc nhờ ảnh hưởng từ các thần tượng K-pop và diễn viên phim truyền hình. Tác động lan tỏa của Hallyu giúp thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu mỹ phẩm Hàn Quốc đạt ngưỡng 8,5 - 10 tỉ USD/năm trên toàn cầu.

Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều chương trình văn hóa - nghệ thuật được đầu tư công phu, thu hút khách du lịch

ẢNH: VIETCHARM

Tại phương Tây, các cường quốc như Mỹ, Pháp, Anh hay Ý đều coi hệ thống bảo tàng, di sản, nghệ thuật thiết kế, thời trang và các sự kiện văn hóa là "nam châm" thu hút du khách toàn cầu. Chẳng hạn Pháp - quốc gia hiện đang giữ vị trí số 1 thế giới về du lịch quốc tế với khoảng 100 triệu lượt khách mỗi năm - ghi nhận có khoảng 50 - 60% du khách quốc tế chọn Pháp làm điểm đến vì lý do trải nghiệm di sản văn hóa , nghệ thuật và kiến trúc. Trong đó, Bảo tàng Louvre là điểm đến thu phí hàng đầu thế giới với gần 8,9 triệu lượt khách/năm (trên 68% là du khách quốc tế). Cùng với đó, các tuần lễ thời trang tại Paris đóng góp trực tiếp và gián tiếp khoảng 1,2 tỉ euro cho nền kinh tế địa phương mỗi năm.

Dành cho bạn

  • Vinh hứng trận mưa kỷ lục tháng 9 sau 41 năm
  • Vụ livestream gây rối tại bệnh viện: 4 ông bà thông gia cùng bị khởi tố
  • Thỏa thuận an ninh 'khủng' của Mỹ về Greenland

Với Việt Nam, dù chỉ mới "ngấp nghé" bước vào đường đua công nghiệp văn hóa , song cũng đã gặt hái được những "trái ngọt" đầu tiên từ du lịch âm nhạc và lễ hội quy mô lớn. Minh chứng rõ nét nhất là Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng (DIFF), sự kiện đã chuyển mình từ một hoạt động văn hóa thuần túy thành động lực kích cầu du lịch toàn diện. Mỗi mùa lễ hội quy tụ hàng trăm chuyên gia, kỹ thuật viên và nghệ sĩ pháo hoa từ khắp thế giới lưu trú kéo dài từ 2 - 3 tuần để chuẩn bị, tập luyện và trình diễn. Toàn bộ chi phí ăn ở tại các khách sạn cao cấp, dịch vụ hậu cần, thuê phương tiện di chuyển, trang thiết bị kỹ thuật cho đến các hoạt động mua sắm, trải nghiệm văn hóa địa phương của các đội thi đã đóng góp hàng chục tỉ đồng trực tiếp cho doanh nghiệp (DN) dịch vụ bản địa.

Thống kê trong hơn một tháng diễn ra DIFF 2024, Đà Nẵng đón hơn 1,5 triệu lượt khách lưu trú, tăng 60% so với kỳ trước, kéo theo công suất sử dụng phòng toàn thành phố đạt 90 - 95%. Tổng doanh thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trong thời gian này ước đạt tới 5.600 tỉ đồng. Nhu cầu di chuyển tăng vọt cũng buộc các hãng hàng không liên tục tăng chuyến đến Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, kéo theo toàn bộ hệ thống vận tải mặt đất, logistics và thương mại sân bay hoạt động hết công suất.

DIFF 2026 vừa qua chưa có thống kê cụ thể tổng doanh số mang lại, song chỉ với lượng khách kỷ lục (2,72 triệu lượt) trong 43 ngày diễn ra lễ hội cũng đủ thấy độ "khủng" và sức hút từ sự kiện này. Tính riêng 6 ngày diễn ra các đêm thi và chung kết, lượng khách lưu trú đạt khoảng 688.500 lượt. Công suất phòng khách sạn tại Đà Nẵng đạt mức bình quân khoảng 85%, riêng khối khách sạn 4 - 5 sao và khu vực trung tâm/ven sông Hàn trong đêm chung kết đạt từ 95 - 98%, cao nhất trong 4 năm liên tiếp. Cùng loạt lễ hội đường phố, âm nhạc và không khí sôi động dọc tuyến Bạch Đằng cùng khu vực ven sông Hàn, DIFF 2026 đã có mặt trong top 9 lễ hội đáng trải nghiệm nhất hành tinh năm 2026, theo bình chọn của Travel + Leisure.

Bên cạnh các lễ hội định kỳ, những sự kiện âm nhạc quy mô quốc tế cũng thể hiện vai trò như một "ngòi nổ" kích cầu du lịch tức thời. Dữ liệu từ Traveloka cho thấy lượt tìm kiếm chuyến bay đến Phú Quốc (An Giang) trong thời gian bán vé concert Maroon 5 hồi năm 2024 đã tăng gấp 10 lần so với tháng trước đó. Đồng thời, số lượng check-in khách sạn tại đây tăng hơn gấp đôi so với tuần trước, tạo nên "lực đẩy" mạnh mẽ cho du lịch Phú Quốc ngay trong giai đoạn ảm đạm nhất. Tương tự, sự xuất hiện của Charlie Puth tại Nha Trang (Khánh Hòa) hồi tháng 7.2024 cũng khiến lượng khách du lịch đến thiên đường nghỉ dưỡng biển này tăng vọt, kích hoạt công suất lưu trú và thúc đẩy chi tiêu cho chuỗi dịch vụ phụ trợ tại địa phương.

Tạo hiệu ứng kinh tế bùng nổ nhất phải kể đến concert Born Pink của BlackPink tại Hà Nội. Thống kê từ Touring Data, 2 đêm diễn của nhóm nhạc Hàn Quốc đã thu hút 67.443 khán giả với tỷ lệ "cháy vé" tuyệt đối 100%, đem về doanh thu bán vé hơn 13,6 triệu USD (hơn 333,4 tỉ đồng). Đáng chú ý, báo cáo từ Sở Du lịch Hà Nội ghi nhận tổng thu từ du khách trong 2 đêm diễn đạt khoảng 630 tỉ đồng, con số bằng non nửa mục tiêu doanh thu mà ngành du lịch địa phương phấn đấu đến năm 2030.

Biến lợi thế thành trải nghiệm có giá trị cao

TS Chung Lê Khang, giảng viên ngành Việt Nam học - Du lịch, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, nhận định Việt Nam có hệ thống di sản vật thể và phi vật thể phong phú, ẩm thực đa dạng, làng nghề, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, tín ngưỡng, tri thức bản địa và bản sắc vùng miền đặc sắc. Đây là nguồn nguyên liệu rất lớn để phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa . Tuy nhiên, có tài nguyên chưa có nghĩa đã hình thành được nguồn lực, và có nguồn lực cũng chưa đồng nghĩa đã tạo ra sản phẩm có giá trị cao.

Chẳng hạn, một món ăn địa phương nếu chỉ phục vụ nhu cầu ăn uống thì chuỗi giá trị khá ngắn. Song, khi món ăn ấy được gắn với câu chuyện vùng đất, nguồn nguyên liệu, kỹ thuật chế biến, người làm nghề, không gian thưởng thức, tour ẩm thực, lễ hội hay nội dung số, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều.

Du lịch trở thành dòng chảy đưa văn hóa địa phương đi xa hơn

ẢNH: VIETCHARM

"Việt Nam có rất nhiều "nguồn", nhưng việc chuyển thành "nguồn lực", rồi tiếp tục "vốn hóa" để hình thành những "sản phẩm" có giá trị cao vẫn còn nhiều dư địa. Đây chính là một trong những không gian phát triển lớn nhất của du lịch Việt Nam", ông Khang nhấn mạnh.

Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng và lợi thế cạnh tranh của du lịch , TS Chung Lê Khang cho rằng trước hết cần thay đổi cách đặt vấn đề. Thay vì chỉ hỏi "địa phương có tài nguyên gì để khai thác du lịch ?", cần hỏi "địa phương có những giá trị nào có thể trở thành nguồn lực và những nguồn lực ấy sẽ được vốn hóa như thế nào để tạo ra sản phẩm có giá trị cao?".

Một di sản không nhất thiết chỉ tạo ra một tour tham quan mà có thể trở thành nguồn cảm hứng cho nghệ thuật trình diễn, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, ẩm thực, quà lưu niệm, nội dung số hay trải nghiệm ban đêm. Đây chính là không gian để công nghiệp văn hóa và du lịch tạo ra giá trị cộng hưởng.

"Vốn hóa phải dựa trên giá trị đặc thù của từng địa phương, sau đó sử dụng sáng tạo, thiết kế, kể chuyện và công nghệ để chuyển chúng thành những trải nghiệm có bản sắc, khó sao chép. Mỗi điểm đến phải trả lời được câu hỏi: Trải nghiệm nào chỉ có thể được cảm nhận đầy đủ khi du khách đến chính nơi này?". Mục tiêu cuối cùng không phải tạo thêm thật nhiều điểm check-in, mà là tạo ra những trải nghiệm đủ khác biệt để khách có lý do ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn, nhớ đến điểm đến và muốn quay trở lại", TS Chung Lê Khang nhấn mạnh.

Nếu văn hóa là linh hồn của điểm đến thì công nghiệp văn hóa chính là công cụ chuyển hóa linh hồn ấy thành giá trị kinh tế, còn du lịch là thị trường để các giá trị đó được lan tỏa và thương mại hóa. Đây chính là mô hình phát triển mà nhiều nền kinh tế sáng tạo trên thế giới đã chứng minh thành công.

TS Đoàn Mạnh Cương (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội)

Báo cáo từ Trung tâm Nghiên cứu dịch vụ và du lịch Pháp chỉ ra rằng du lịch văn hóa có mức chi tiêu trung bình/ngày cao hơn 30% so với du lịch thuần túy. Mỗi euro du khách chi cho vé tham quan/sự kiện văn hóa kích thích chuỗi chi tiêu phụ trợ từ 2,5 - 3,5 euro vào dịch vụ lưu trú, hàng không, gastronomy (ẩm thực) và bán lẻ cao cấp.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!