Thị Trường Hàng Hóa

Eo biển chiến lược đối mặt sóng gió

Với vị trí địa lý đặc thù, Hormuz đã trở thành một trong những eo biển quan trọng nhất thế giới, mang lại đòn bẩy chính trị - kinh tế lớn cho các bên liên quan

Trên thế giới có hàng trăm eo biển hoặc kênh đào nhưng chỉ một số ít được xem là "điểm nghẽn chiến lược" do tầm quan trọng đặc biệt của chúng. Nếu những nơi này bị phong tỏa, dòng hàng hóa hàng triệu tấn vận chuyển mỗi ngày qua đường biển có thể bị đình trệ.

Vị trí địa lý đặc biệt

Trước khi chiến sự giữa Mỹ - Israel và Iran bùng phát vào cuối tháng 2-2026, khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới đi qua eo biển Hormuz . Đây là tuyến đường biển chiến lược để các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ chủ chốt đưa năng lượng ra thị trường toàn cầu.

Các thành viên Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) như Ả Rập Saudi, Iran, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) - vừa rời OPEC - cùng với Kuwait và Iraq xuất khẩu phần lớn dầu thô qua tuyến đường biển này. Là một trong những quốc gia xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới, Qatar vận chuyển gần như toàn bộ mặt hàng này qua Hormuz .

Trong khi đó, Công ty phân tích Kpler (Bỉ) ước tính khoảng 33% lượng phân bón toàn cầu cũng đi qua Hormuz . Tuy nhiên, dữ liệu của Liên hợp quốc chỉ ra lưu lượng tàu thuyền qua eo biển này đã giảm tới 97% kể từ khi chiến sự nổ ra tại Trung Đông.

Nằm giữa vịnh Ba Tư và vịnh Oman, eo biển Hormuz là tuyến vận tải duy nhất nối vịnh Ba Tư với đại dương. Iran kiểm soát bờ biển phía Bắc của điểm nghẽn chiến lược này, còn UAE và Oman kiểm soát bờ phía Nam.

Eo biển chiến lược đối mặt sóng gió - Ảnh 1

Các tàu quân sự Mỹ hộ tống một tàu chở dầu tại vịnh Ba Tư ngày 21-10-1987. Ảnh: CƠ QUAN LƯU TRỮ QUỐC GIA MỸ

Eo biển Hormuz dài khoảng 90 hải lý (tương đương 167 km), trong khi chiều rộng thay đổi dọc theo toàn tuyến, dao động từ 21 hải lý đến 52 hải lý. Để điều phối tàu thuyền qua lại, Hormuz được chia thành 2 tuyến chính, mỗi tuyến rộng khoảng 2 hải lý và được ngăn cách bởi một vùng đệm.

Vào năm 1959, Iran đã ban hành một đạo luật nhằm thay đổi quy chế pháp lý của eo biển Hormuz . Theo đó, Iran mở rộng lãnh hải của mình lên 12 hải lý, đồng thời tuyên bố chỉ cho phép phương tiện đi qua theo nguyên tắc "qua lại vô hại". Theo khái niệm này, tàu thuyền hoặc máy bay chỉ được phép đi qua trong những điều kiện hạn chế nhất định.

Tiếp sau Iran, đến năm 1972, Oman cũng mở rộng lãnh hải lên 12 hải lý. Việc này khiến toàn bộ chiều rộng eo biển Hormuz về mặt danh nghĩa nằm trong vùng lãnh hải chồng lấn của 2 nước.

Điều 38 Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) - có hiệu lực từ năm 1994 - quy định tàu thuyền được hưởng quyền "quá cảnh" không bị cản trở qua lại hơn 100 eo biển trên toàn thế giới, bao gồm Hormuz .

Theo đài Channel News Asia, các quốc gia ven eo biển chỉ được phép điều chỉnh hoạt động quá cảnh trong những phạm vi mà UNCLOS quy định, như bảo đảm an toàn hàng hải hoặc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Các nước này không có quyền ngăn cản tàu thuyền đi qua, cũng như không được thu phí chỉ vì quyền quá cảnh (dù có thể thu phí đối với các dịch vụ cụ thể).

Đến nay, khoảng 170 quốc gia cùng với Liên minh châu Âu (EU) đã phê chuẩn UNCLOS. Trong khi đó, cả Iran và Mỹ chưa tham gia công ước này. Điều đó đặt ra vấn đề pháp lý quan trọng: Các quy định của UNCLOS về quyền tự do hàng hải trở thành một phần của luật tập quán quốc tế hoặc chỉ áp dụng đối với những nước chính thức phê chuẩn.

Phong tỏa "dễ như uống cốc nước"

Trước khi rơi vào cảnh phong tỏa hiện nay, Hormuz đã trải qua không ít sóng gió. Trong cuộc chiến Iran - Iraq (1980-1988), hai bên đã tìm cách phá hoại hoạt động xuất khẩu năng lượng của đối phương qua "chiến tranh tàu chở dầu".

Iran và Iraq khi đó đã tấn công một loạt tàu thương mại ở vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz . Iraq tập kích các cảng dầu và tàu chở dầu tại đảo Kharg - Iran. Đáp lại, Iran tấn công các tàu chở dầu đến và rời khỏi Kuwait cùng các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh khác ủng hộ Iraq. Việc hơn 100 tàu chở dầu bị tấn công khiến Mỹ và một số quốc gia Tây Âu phải can thiệp.

Từ năm 1988, Mỹ và Iran trở thành những bên chủ chốt trong cuộc đối đầu căng thẳng tại khu vực. Khởi đầu là chiến dịch quân sự Praying Mantis của Mỹ nhắm vào các mục tiêu hải quân của Iran tại vịnh Ba Tư ngày 18-4-1988 nhằm trả đũa việc một tàu chiến Mỹ bị trúng thủy lôi 4 ngày trước đó.

Trong chiến dịch kéo dài 1 ngày này, theo trang Military.com, Hải quân Mỹ đã phá hủy 2 giàn khoan dầu. Phía Mỹ còn đánh chìm một tàu hộ vệ và một tàu tên lửa, làm tê liệt một tàu hộ vệ khác, tiêu diệt ít nhất 3 xuồng cao tốc vũ trang và buộc các tiêm kích F-4 Phantom của Iran phải rút lui dưới hỏa lực tên lửa.

Ngay sau đó là một sự kiện bi thảm: chuyến bay 655 của Hãng hàng không Iran Air bị tàu chiến Mỹ USS Vincennes bắn hạ trên eo biển Hormuz vào tháng 7-1988, khiến toàn bộ 290 hành khách và thành viên phi hành đoàn thiệt mạng. Trong giai đoạn từ tháng 12-2007 đến tháng 1-2008, một loạt cuộc đối đầu giữa thuyền cao tốc Iran và tàu chiến Mỹ tại Hormuz khiến thế giới lo lắng.

Eo biển chiến lược đối mặt sóng gió - Ảnh 2

Tàu USS Samuel B. Roberts sau khi trúng thủy lôi ngày 14-4-1988. Ảnh: CƠ QUAN LỊCH SỬ VÀ DI SẢN HẢI QUÂN MỸ

Gần đây hơn, vào tháng 5-2019, 4 tàu - trong đó có 2 tàu chở dầu của Ả Rập Saudi - đã bị tấn công ngoài khơi UAE, khu vực bên ngoài eo biển Hormuz . Trong 2 năm 2023 - 2024, 3 tàu bị Iran bắt giữ tại hoặc gần khu vực này.

Ngoài ra, eo biển Hormuz không ít lần đối mặt mối đe dọa bị đóng cửa. Một tư lệnh của Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) hồi năm 2011 cảnh báo việc phong tỏa Hormuz "dễ như uống cốc nước". Đến tháng 1-2012, Iran tiếp tục đe dọa làm thế để đáp trả các lệnh trừng phạt từ Mỹ và Liên minh châu Âu. Vào năm ngoái, Iran lại cân nhắc đóng cửa eo biển này sau khi bị Mỹ không kích các cơ sở hạt nhân...

Quyền "qua lại vô hại"

Xét về lịch sử, quyền tự do hàng hải trên biển - khu vực không thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào và mở cho mọi quốc gia - luôn gắn liền với quyền tự do thương mại. Trong vùng lãnh hải - nơi quốc gia ven biển có chủ quyền, tàu thuyền không được hưởng quyền tự do hàng hải mà chỉ có quyền "qua lại vô hại", tức là được phép đi qua miễn là không gây phương hại đến hòa bình, trật tự tốt đẹp và an ninh của quốc gia ven biển.

Quốc gia ven biển có thể ban hành quy định đối với hoạt động "qua lại vô hại" cũng như tạm thời đình chỉ quyền này. Đối với các eo biển nằm trong phạm vi lãnh hải, chế độ "qua lại vô hại" vẫn được áp dụng nhưng có một khác biệt: Quyền này không thể bị đình chỉ, do tầm quan trọng của các eo biển đối với thương mại quốc tế.

Sau Thế chiến II, các quốc gia ven biển tìm cách mở rộng phạm vi quyền tài phán trên biển nhằm kiểm soát tốt hơn tài nguyên đại dương. Việc mở rộng lãnh hải từ 3 lên 12 hải lý đã khiến nhiều eo biển rơi vào phạm vi chủ quyền của quốc gia ven biển.

Nhiều nước ven eo biển cho rằng nên áp dụng chế độ "qua lại vô hại". Tuy nhiên, các cường quốc hàng hải lo ngại điều này sẽ trao cho quốc gia ven biển quá nhiều quyền lực trong việc hạn chế tàu thuyền thương mại và quân sự đi qua các điểm nghẽn chiến lược quan trọng.

(Còn tiếp)

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!