Thị Trường Hàng Hóa

Gửi tiền ở ngân hàng nào lãi cao nhất?

Từ ngày 10.4 đến nay, hàng chục nhà băng đã điều chỉnh lãi suất đi xuống. Vậy giờ người có tiền nhàn rỗi, gửi tiền ở ngân hàng nào để hưởng lợi lớn nhất?

Người gửi "săn" lãi suất cao

Tốc độ tăng lãi suất tiết kiệm kéo dài từ cuối năm 2025 qua đến đầu tháng 4.2026 với mức tăng khoảng 2%/năm. Để giảm sức nóng cuộc chạy đua này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tổ chức cuộc họp và sau đó, các NH thương mại đồng thuận giảm lãi suất từ ngày 10.4. Trong gần 10 ngày qua, hơn 30 nhà băng đã công bố giảm lãi suất tiết kiệm nhưng trên thị trường vẫn có mức lãi suất 8%/năm, thậm chí mức 10%/năm vẫn hiện hữu. Là NH có mức lãi suất huy động lên 9,2%/năm gây sốt vào đầu tháng 4, NH số Cake by VPBank dù giảm lãi suất 0,5% ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên nhưng ghi nhận mức lãi cao trên thị trường. Đối với tiết kiệm thông thường, lãi suất kỳ hạn 6 - 9 tháng ở mức 7,2%/năm; từ 10 - 24 tháng còn 7,4%/năm. Thế nhưng đối với khách mới gửi tiền từ 100 triệu đồng trở lên sẽ được cộng thêm lãi suất 1,3%. Với mức thưởng này, lãi suất có thể lên đến 8,5 - 8,7%/năm tùy theo kỳ hạn.

Tương tự, nhân viên chăm sóc khách hàng cá nhân NH NCB cho PV Thanh Niên hay sau khi NH điều chỉnh giảm lãi suất 0,5%/năm, lãi suất kỳ hạn trên 6 tháng vẫn hơn 8%/năm. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 6 - 8 tháng từ 8,3 - 8,4%/năm; 9 - 13 tháng từ 8,35 - 8,45%/năm. Khách gửi qua hình thức online sẽ được cộng thêm lãi suất 0,1%, nên lãi suất có thể lên đến 8,45 - 8,55%/năm. Không những 2 NH trên mà các NH khác cũng có lãi suất trên 7%/năm như MBV, Bac A Bank, VCBNeo, VIB...

Gửi tiền ở ngân hàng nào lãi cao nhất? - Ảnh 1

Trên thị trường vẫn đang duy trì lãi suất tiết kiệm 8%, thậm chí 10%/năm

Ảnh: Ngọc Thắng

Lãi suất cao nhất trên thị trường hiện nay thuộc về PVCombank khi duy trì mức 10%/năm ở 2 kỳ hạn 12 và 13 tháng với số tiền tối thiểu 2.000 tỉ đồng. MSB áp dụng lãi suất 9%/năm đối với sổ tiết kiệm mở mới hoặc mở từ ngày 1.1.2018 tự động gia hạn có kỳ hạn gửi 12 tháng, 13 tháng và số tiền gửi từ 500 tỉ đồng. Tương tự, Vikki Bank áp dụng lãi suất 13 tháng cho các khoản tiết kiệm từ 999 tỉ đồng trở lên là 7,9%/năm… Có thể thấy, quy định lãi suất dưới 6 tháng kịch trần 4,75%/năm nên các NH không chạy đua nhiều ở những kỳ hạn này, ngược lại sự phân hóa tập trung ở kỳ hạn 6 tháng trở lên và mức chênh lệch giữa các nhà băng là từ 1 - 3%/năm.

Ở góc độ gửi tiền, nhiều khách hàng cá nhân vẫn có xu hướng tìm nơi có lãi suất cao . Ông Thanh Quang (ngụ TP.HCM) chia sẻ ông đang gửi 500 triệu đồng kỳ hạn 6 tháng tại Vietcombank, lãi suất áp dụng cho hình thức gửi online là 6,6%/năm. Sau nửa năm, số tiền lãi nhận được đạt khoảng 16,5 triệu đồng. Nếu gửi tại quầy, lãi suất 3,5%/năm, khoản lãi chỉ còn 8,75 triệu đồng, bằng một nửa. Ông Quang băn khoăn hiện NCB niêm yết lãi suất lên tới 8,3%/năm cho cùng kỳ hạn, tương đương số tiền lãi khoảng 20,75 triệu đồng sau 6 tháng. "Với người đã nghỉ hưu như tôi, số tiền lãi tăng thêm vài triệu đồng là đáng kể", ông Quang cho biết, đồng thời chia sẻ kế hoạch sẽ chuyển khoản tiền gửi sang NH có lãi suất cao hơn sau khi sổ tiết kiệm hiện tại đáo hạn. Xu hướng "săn" lãi suất cao không chỉ diễn ra ở nhóm khách hàng lớn tuổi mà còn phổ biến trong nhiều phân khúc khác, đặc biệt trong bối cảnh các NH cạnh tranh mạnh mẽ về huy động vốn.

Đầu vào giảm, vì sao đầu ra cần độ trễ?

Lãi suất tiết kiệm đồng loạt giảm nhưng lãi vay vẫn khá e dè khi đi xuống. Một số quan điểm cho rằng NH cần có thời gian, độ trễ để giảm lãi vay. Thế nhưng, theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, lãi suất cho vay mới hoàn toàn có thể giảm ngay mà không cần chờ thời gian 1 - 2 tháng sau mới điều chỉnh. "Hôm nay, NH giảm lãi suất huy động thì không có lý gì áp dụng lãi suất cho vay từ trước đó đối với khách. Những món vay cũ, quy định trong hợp đồng lãi suất được ấn định thay đổi sau 3, 6 hay 12 tháng thì đến thời điểm đó mới có thể thay đổi được lãi suất vay. Trong trường hợp lãi suất cho vay thả nổi thì lãi huy động giảm, lãi vay cũng phải giảm. Việc đưa ra lý lẽ giải thích cho việc độ trễ, thời gian là cái cớ để trì hoãn việc giảm lãi", ông Hiếu nói thẳng.

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu phân tích: Hệ thống NH đang chịu áp lực lớn khi tăng trưởng tín dụng liên tục cao hơn huy động vốn từ cuối năm 2025 đến nay. Để hút tiền gửi, các NH buộc phải tăng lãi suất huy động, kéo theo lãi suất cho vay tăng. Đáng chú ý, dù lãi suất huy động đã có xu hướng tăng trong thời gian qua, dòng tiền gửi vào NH vẫn chưa cải thiện rõ rệt. Nếu lãi suất tiếp tục giảm, kênh tiết kiệm sẽ càng gặp bất lợi trong cạnh tranh với các kênh đầu tư khác, đặc biệt là vàng. Thêm vào đó, bối cảnh lạm phát gia tăng, việc giảm lãi suất càng trở nên khó khăn do đây là công cụ quan trọng để kiểm soát lạm phát. "Cần để các NH tự điều chỉnh lãi suất theo cung - cầu thị trường, tránh can thiệp hành chính gây méo mó. NHNN đóng vai trò điều tiết thanh khoản, song nguồn vốn cho vay vẫn chủ yếu phụ thuộc vào huy động từ người dân và doanh nghiệp", ông Hiếu khuyến nghị.

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, để giữ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số thì công cụ tài chính, trong đó có lãi suất, phải linh hoạt. Nền kinh tế năm nay cần một lượng vốn lớn cho tăng trưởng nhưng chỉ phụ thuộc vốn NH, vốn trong nước không thôi thì chưa thể đáp ứng được. Thế nên về nguồn vốn trung dài hạn, doanh nghiệp cần tiếp cận qua kênh thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu, đồng thời tiếp cận vốn bên ngoài nhưng kiểm soát được tỷ giá để có được nguồn vốn rẻ. Trong mấy năm nay, lãi suất vay của doanh nghiệp ở mức 6 - 8%/năm, nếu tăng lên 10% hay cao hơn mức này thì bản thân người đi vay cũng sẽ thấy rủi ro cao. Từ đó sẽ hạn chế vay, hay nói đúng hơn là sức mua giảm. Đây là yếu tố cần cân nhắc khi lãi vay tiến đến 10% hay trên mức này đang phổ biến. Bởi sức mua sẽ định hình tất cả nhu cầu về vốn. Nếu doanh nghiệp không bán được hàng thì họ cũng không có nhu cầu vay, hoặc sức mua yếu cũng sẽ khiến doanh nghiệp cân nhắc việc vay vốn sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng cần chia sẻ hơn với nền kinh tế

Mới đây, Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) đề xuất xem xét giảm mặt bằng lãi suất xuống dưới 6%/năm đối với doanh nghiệp xuất khẩu, trên tinh thần chia sẻ rủi ro và hỗ trợ duy trì dòng tiền trong bối cảnh lãi suất cho vay phổ biến vượt 8,5%/năm. Trước đó, HUBA tiến hành khảo sát các thành viên và kết quả cho thấy khó khăn của doanh nghiệp tập trung ở những vấn đề sau: giá nguyên liệu đầu vào tăng (54,5%); lãi suất vay vốn cao (48%); chi phí vận chuyển, logistics cao (41%); nhu cầu tiêu dùng suy giảm (32%); thiếu đơn hàng mới và khó tuyển dụng lao động (cùng 27%).

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!