Hàng trăm nghìn mã số thuế chờ gỡ vướng

617.000 mã số thuế vướng ở đâu?

Tại tọa đàm “Làm sạch mã số thuế: Làm sao để doanh nghiệp “đóng cửa thuận lợi?”, do Báo Dân Trí phối hợp với Cục Thuế tổ chức ngày 9-10, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) Nguyễn Đức Huy cho biết, sau gần 5 tháng khai chiến dịch rà soát, làm sạch mã số thuế, hơn 125.000 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể; hơn 50.000 doanh nghiệp được xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước, đang tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ khác để hoàn tất thủ tục giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, khoảng 4.000 doanh nghiệp đã quay lại làm việc với cơ quan thuế, khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh và gia nhập lại thị trường.

Hàng trăm nghìn mã số thuế chờ gỡ vướng - Ảnh 1

Hướng dẫn thủ tục cho người nộp thuế tại Thuế cơ sở 4 thành phố Hà Nội. Ảnh: Đỗ Tâm

Những con số này cho thấy, chiến dịch đã tạo chuyển biến trong xử lý các trường hợp tồn đọng kéo dài. Tuy nhiên, so với tổng số 617.000 mã số thuế thuộc diện rà soát, khối lượng công việc còn lại vẫn rất lớn. Đây là số liệu tích lũy qua nhiều năm, không phải số doanh nghiệp mới phát sinh trong năm 2026, tập trung ở hai nhóm: Người nộp thuế đã tạm ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế; người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế.

Theo ông Nguyễn Đức Huy , nhiều doanh nghiệp đã làm thủ tục giải thể nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội hoặc các nghĩa vụ liên quan. Một bộ phận khác tự ngừng kinh doanh, rời khỏi địa chỉ đăng ký mà không thông báo với cơ quan chức năng, khiến tình trạng pháp lý không được cập nhật kịp thời.

Chỉ ra nguyên nhân doanh nghiệp đã đóng cửa nhưng vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục rời thị trường, ông Mạc Quốc Anh Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cho biết, có ba lý do chính: Thiếu thông tin và hiểu biết chưa đầy đủ về nghĩa vụ pháp lý; tâm lý trì hoãn khi gặp khó khăn; chi phí hoàn tất thủ tục không tương xứng với quy mô của nhiều doanh nghiệp nhỏ.

Không ít chủ doanh nghiệp cho rằng, khi đã đóng cửa văn phòng, không còn doanh thu hay giao dịch thì hoạt động kinh doanh cũng kết thúc. Trong khi đó, việc ngừng hoạt động trên thực tế không đồng nghĩa với chấm dứt hoạt động về mặt pháp lý. Nếu chưa hoàn tất thủ tục theo quy định, doanh nghiệp vẫn phải xử lý các nghĩa vụ kê khai, hóa đơn và những khoản còn tồn đọng.

Khi kinh doanh thua lỗ, chủ doanh nghiệp thường ưu tiên giải quyết công nợ, người lao động, tài sản và mặt bằng, còn thủ tục thuế, kế toán, giải thể bị để lại. Càng kéo dài, hồ sơ càng khó khôi phục do chứng từ thất lạc, nhân sự kế toán thay đổi, thông tin liên hệ không còn chính xác. Đến khi muốn xử lý, doanh nghiệp phải đối diện với nhiều vướng mắc cùng lúc.

Chi phí và hồ sơ tồn đọng - nút thắt cần tháo gỡ

Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc chỉ ra, một trong những khó khăn lớn là doanh nghiệp không còn nợ thuế gốc nhưng vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục do thiếu tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc chưa xử lý đầy đủ hồ sơ hóa đơn. Khi cộng các khoản phạt chậm nộp hồ sơ, lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, tổng số tiền phải xử lý có thể tăng lên hàng chục triệu đồng, thậm chí cao hơn.

Bà Cúc dẫn trường hợp doanh nghiệp có tiền phạt chậm nộp tờ khai khoảng 23 triệu đồng; cộng các khoản lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, tổng số tiền phải xử lý lên tới 63-65 triệu đồng, thậm chí có trường hợp khoảng 100 triệu đồng. Một trường hợp khác là xưởng gỗ của một thương binh phải dừng hoạt động sau thời kỳ dịch Covid-19, đến nay khoản phạt liên quan đến thủ tục đã lên tới 61 triệu đồng.

Với những doanh nghiệp không còn doanh thu, không có nguồn lực tài chính, đây là khoản chi phí không dễ giải quyết. Khó khăn còn nằm ở quá trình quyết toán thuế, nhất là những hồ sơ kéo dài nhiều năm, mất hóa đơn, thiếu chứng từ hoặc có giao dịch liên quan đến đơn vị vi phạm. Trong khi đó, nguồn lực của cơ quan thuế có hạn, việc xác minh và xử lý từng trường hợp cần thời gian.

Theo bà Nguyễn Thị Cúc, cần phân loại rõ doanh nghiệp không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế, không có dấu hiệu gian lận với nhóm cố tình né tránh nghĩa vụ, mua bán hóa đơn bất hợp pháp hoặc bỏ trốn. Không phát sinh doanh thu không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn nghĩa vụ kê khai; song, nếu không phân biệt bản chất vi phạm, doanh nghiệp chỉ mắc sai sót thủ tục có thể gặp rào cản tương tự trường hợp cố tình gian lận.

Từ thực tế đó, bà Cúc đề xuất nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp đối với các khoản phạt thủ tục, phạt chậm nộp tờ khai và nghĩa vụ tồn đọng của doanh nghiệp không gian lận, không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế, trên cơ sở điều kiện và thẩm quyền theo quy định pháp luật.

Với những trường hợp không hoạt động, không có doanh thu trong thời gian dài nhưng còn tồn đọng lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, cần tiếp tục rà soát để có phương án phù hợp. Đây là kiến nghị chính sách cần được đánh giá, hoàn thiện cơ sở pháp lý, không đồng nghĩa với việc tự động xóa mọi khoản nợ hoặc miễn trách nhiệm cho doanh nghiệp.

Cùng với tháo gỡ về chính sách, ông Mạc Quốc Anh cho rằng, cần nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm, thông báo đa kênh và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp chủ động thực hiện nghĩa vụ. Cơ quan quản lý cần công khai quy trình, thành phần hồ sơ và đầu mối giải quyết; tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các đơn vị liên quan, hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục hồ sơ và xác định chính xác nghĩa vụ còn phải thực hiện.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!