Trong nhiệm kỳ thứ 2, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã triển khai một cuộc tấn công trực diện vào cái gọi là nền tảng của trật tự toàn cầu. Ông phớt lờ luật pháp quốc tế, phá hủy hệ thống thương mại toàn cầu bằng các mức thuế đơn phương với hàng loạt quốc gia đồng thời rút Mỹ khỏi các tổ chức đa phương quan trọng.
Trên thực tế, Mỹ không phải lúc nào cũng là người ủng hộ lý tưởng cho hợp tác quốc tế. Nước này có xu hướng đi theo chủ nghĩa biệt lập khi còn là một cường quốc đang lên và chủ nghĩa đơn phương khi đã trở thành siêu cường. Thế nhưng, cách tiếp cận của ông Trump trong việc định hình lại trật tự thế giới tạo ra một sự kết hợp mới và nguy hiểm giữa chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa bành trướng. Điều này có nghĩa bất kỳ điều gì xảy ra ở Washington, Chủ nghĩa Trump sẽ tồn tại lâu hơn nhiệm kỳ của vị Tổng thống sẽ bước sang tuổi 80 trong năm nay.
Các chuyên gia và nhà khoa học chính trị từ lâu đã dự đoán sự kết thúc của thời kỳ đơn cực mà Mỹ dẫn đầu thay vào đó là một trật tự thế giới đa cực hơn. Ông Trump được coi là “chất xúc tác” để đẩy nhanh tiến trình này. Mỹ vẫn sẽ là quốc gia mạnh nhất về kinh tế và quân sự trong vài năm nữa. Thế nhưng, nước Mỹ sẽ vắng mặt, nếu không muốn nói là chủ động thù địch, với trật tự thế giới hiện có.
Câu hỏi đặt ra là cộng đồng quốc tế nên phản ứng thế nào? Duy trì hợp tác toàn cầu mà không có Washington sẽ rất khó khăn. Để tồn tại, các thể chế đa phương hiện có phải thích ứng, cải cách và tăng gấp đôi nỗ lực. Nếu họ làm được điều đó, Mỹ một ngày nào đó sẽ phải tái gia nhập dựa trên các điều khoản bình đẳng hơn.
Khái niệm thế giới trừ 1 mang một ý nghĩa mới trong nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Trump. Cựu Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long giúp khải niệm này phổ biến vào hồi tháng 7 năm ngoái, sử dụng cụm từ thế giới tạm thời trừ đi 1 để chỉ rõ hơn việc quản lý kinh tế và thương mại toàn cầu trong một thế giới mà Mỹ không còn nắm vị thế đầu tàu. Tuy nhiên, tình trạng này có vẻ vượt ngoài phạm vi kinh tế và nói lên thách thức cốt lõi của thời đại.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright từng mô tả Mỹ là một quốc gia không thể thiếu với hợp tác quốc tế. Thực tế, nhiều người cũng nghĩ vậy. Chính điều này gây ra tâm lý lo lắng khi Mỹ từ bỏ cam kết của mình với trật tự toàn cầu.
Thế nhưng, lịch sử quan hệ quốc tế lại kể một câu chuyện khác. Các học giả như Stephen Krasner và Robert Keohane từng nhận định một bá chủ toàn cầu không phải điều kiện cần để duy trì sự cởi mở về kinh tế và hợp tác về chính trị. Một khi đã hình thành, các thể chế quốc tế rất bền vững. Chúng tồn tại không phải vì “lòng tốt” của ai đó mà vì phục vụ lợi ích cốt lõi của các thành viên. Lợi ích cốt lõi được duy trì, sự hợp tác cũng được duy trì.
Điều này có nghĩa chủ nghĩa đa phương có thể tồn tại ngay cả khi một cường quốc bá chủ không tham gia, rút lui hoặc phản đối sự hợp tác giữa các quốc gia khác.
Trên thực tế, lịch sử thế kỷ 20 cho thấy một số yếu tố cơ bản nhất của trật tự thế giới hiện nay đã xuất hiện mà không cần sự hậu thuẫn của bất kỳ cường quốc bá chủ nào. Ví dụ, phi thực dân hóa và bình đẳng chủng tộc đã trở thành chuẩn mực toàn cầu mà không cần có sự hỗ trợ của Mỹ. Thậm chí, Washington ban đầu còn phản kháng các yếu tố này.
Tại Hội nghị Á-Phi năm 1955 ở Bandung, Indonesia nhằm yêu cầu phi thực dân hóa ngay lập tức ở châu Á và châu Phi, Mỹ, đồng minh thân cận của Anh, đã gây áp lực lên các quốc gia tham dự Hội nghị để bác bỏ lời kêu gọi này với lo sợ rằng điều đó sẽ khiến chủ nghĩa xã hội lan rộng khắp thế giới . Tất nhiên, cuộc đấu tranh phi thực dân hóa vẫn tiếp tục và tạo ra một Liên Hợp Quốc với 193 quốc gia thành viên có chủ quyền như hiện nay.
Kể từ khi kết thúc Thế chiến II, Mỹ cũng luôn thể hiện mình là một tác nhân không mấy tinh thần xây dựng. Họ tạo ra các thể chế và quy tắc, tôn trọng chúng khi chúng phù hợp với lợi ích của Mỹ nhưng lại phớt lờ khi chúng bất lợi. Mặc dù Mỹ vẫn là một phần của nhiều hiệp ước đa phương nhưng họ luôn cảnh giác với bất cứ hậu quả nào mà họ không thích. Trong trường hợp cực đoan, Washington thậm chí còn dùng đến việc cô lập, tẩy chay và trừng phạt đối với những quốc gia bị coi là đối thủ.
Tuy nhiên, sự hiện diện của Mỹ không phải tất cả. 3 ví dụ gần là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu và Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) cho thấy các thể chế và thỏa thuận đa phương có thể tồn tại như thế nào khi không có Mỹ. Cụ thể, sau khi Washington khước từ ký UNCLOS vào năm 1982, công ước này vẫn thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn cầu ổn định cho các vùng biển và quyền hàng hải, thúc đẩy thương mại và cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp hòa bình. Mỹ cũng hưởng lợi từ đó.
Mỹ thường xuyên dùng UNCLOS để bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Việc Mỹ không ký nhưng vẫn viện dẫn UNCLOS cho thấy kịch bản thế giới trừ đi Mỹ hoàn toàn khả thi.
Một ví dụ khác là Mỹ rút khỏi Hiệp định Paris không khiến các quốc gia thay đổi mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Trung Quốc, quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới hiện nay, cũng cam kết đạt mục tiêu này vào năm 2060. EU muốn đạt mục tiêu vào năm 2050 còn Ấn Độ đặt mục tiêu vào năm 2070. Khi công nghệ điện gió và điện mặt trời ngày càng rẻ và phổ biến, sự rút lui của Mỹ không phải yếu tố khiến các nước từ bỏ mục tiêu phát thải ròng bằng 0.
Mỹ cũng không công nhận ICC. Khi tổ chức này đưa ra cáo buộc nhằm vào các nhà lãnh đạo Israel, Mỹ đã thực hiện trả đũa ICC. Tuy nhiên, ngay cả các đồng minh của Mỹ, bao gồm Anh, vẫn tiếp tục ủng hộ tính độc lập của ICC và từ chối theo bước Mỹ. Đó là lý do khiến phán quyết của ICC không bị xem nhẹ.
Nếu như cách tiếp cận của Mỹ với chủ nghĩa đa phương luôn mang tính điều kiện thì dưới thời ông Trump, có thể sử dụng từ “thù địch”. Mỹ hiện đang theo đuổi các mối quan hệ song phương nhằm tối đa hóa lợi ích dù với các đồng minh hay đối thủ.
Kể từ nhiệm kỳ đầu năm 2016, ông Trump đã rút hoặc tuyên bố rút khỏi nhiều thỏa thuận và thể chế đa phương. Trong nhiệm kỳ 2, ông Trump còn tuyên bố ý định rút Mỹ khỏi Tổ chức Y tế Thế giới và UNESCO. Tiếp theo là các kế hoạch cắt giảm ngân sách dành cho Liên Hợp Quốc, bao gồm cả các khoản tiền đã được Quốc hội nước này phê duyệt.
Khi Mỹ ngày càng rút lui khỏi các vai trò toàn cầu, thế giới lại chứng kiến sự trỗi dậy của các cường quốc và các diễn đàn đa phương. BRICS, G-20, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang trở thành những diễn đàn nơi thế giới cùng nhau hợp tác vì lợi ích dù không có Mỹ.
Một số quốc gia BRICS, đặc biệt là các thành viên sáng lập, đã công khai đương đầu với ông Trump bất chấp những đe dọa thuế quan. Ngay cả khi những lời đe dọa thuế quan của ông Trump khiến các nước BRICS không còn nhắc đến kế hoạch về đồng tiền chung nhằm phi đô la hóa nhưng điều đó không khiến mang muốn thoát li đồng bạc xanh lụi tàn mà ngược lại, càng trở nên mạnh mẽ hơn.
Hội nghị thượng đỉnh SCO tháng 8 năm 2025 tại Thiên Tân, Trung Quốc, đã cung cấp một diễn đàn khác để thể hiện sự phản kháng đa phương đối với các chính sách của ông Trump. Tại sự kiện này, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã gặp nhau và tuyên bố New Delhi và Bắc Kinh là đối tác, chứ không phải đối thủ. Hội nghị G20 cũng đưa ra nhiều tiếng nói về lợi ích của các thành viên, trong đó không ít quốc gia đối đầu với Mỹ.
Trở lại với Liên Hợp Quốc, trong khi Mỹ thường xuyên chỉ trích tổ chức này, các quốc gia khác vẫn coi đây là diễn đàn hợp tác. Trong 2 thập kỷ qua, Trung Quốc cũng đóng góp ngày càng nhiều cho tổ chức này. Trong khi Mỹ góp 22% vào ngân sách thường xuyên của Liên Hợp Quốc và 26,2% ngân sách cho hoạt động gìn giữ hòa bình, Trung Quốc đứng ngay sau với 20% và 23,8%. Khi Mỹ rút lui, đây có thể là cơ hội để Trung Quốc thể hiện mình.
Trong khi đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, vốn có truyền thống phụ thuộc an ninh vào Mỹ, có thể sẽ trở thành trung tâm của trật tự thế giới trừ 1. Ở đây, hai thỏa thuận thương mại được đặt biệt chú ý là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA). RCEP hiện đang nổi lên như nhóm thương mại lớn nhất toàn cầu cả về GDP và dân số.
Với sự hiện diện của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN, RCEP hiện đang chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu. RCEP đặt mục tiêu loại bỏ 90% thuế quan trong khối trong 2 thập kỷ và tạo ra các quy tắc chung trong những lĩnh vực gây tranh cãi như thương mại điện tử và sở hữu trí tuệ.
CAFTA, với lần nâng cấp gần nhất vào tháng 10/2025, đang thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN trong một loạt các lĩnh vực bao gồm kinh tế xanh và kết nối chuỗi cung ứng. Nhiều nhà quan sát cho rằng đây là thắng lợi của Bắc Kinh, nhất là khi Washington liên tục gây áp lực để các nước ASEAN tách xa khỏi Trung Quốc.
Liên minh châu Âu (EU) cũng đang nổi lên là một tay chơi lớn trong trật tự thế giới trừ 1. Khối này đã hoàn tất thỏa thuận thương mại tự do với nhiều nước Nam Mỹ, hợp tác với Bắc Kinh tại châu Phi và Nam Mỹ theo cách bổ trợ lẫn nhau.
Ấn Độ cũng đóng vai trò không nhỏ. Trong khi mạnh mẽ ứng phó với các áp lực của ông Trump, New Delhi đang nhanh chóng mở rộng và thể chế hóa các mối quan hệ thương mại của riêng mình. Giống như Trung Quốc, Ấn Độ cũng tiến hành phần lớn giao dịch với Nga bằng đồng nội tệ. Quốc gia này cũng duy trì quan hệ an ninh với Moscow bất chấp sự phản đối.
Thế giới dường như đã tìm ra cách để duy trì một trật tự đa phương khi Mỹ quay lưng. Câu hỏi đặt ra là khi nào thế giới trừ 1 kết thúc? Điều đó phụ thuộc vào nước Mỹ. Tuy nhiên, sự rút lui của Mỹ đã để lại khoảng trống, điều có thể khiến Washington phải trả giá đắt nếu muốn trở lại. Ngoài ra, thế giới sẽ không quên việc nước Mỹ đã từng quay lưng.
Nguồn: Tổng hợp