Vốn chủ sở hữu là một trong những con số quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực tài chính của một ngân hàng . Nguồn vốn càng dồi dào thì nền tảng tài chính càng vững, giúp ngân hàng đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hoạt động và trở thành bệ đỡ để mở rộng quy mô, thực hiện các chiến lược kinh doanh trong tương lai.
Vốn chủ sở hữu thường chỉ chiếm khoảng 6–15% tổng tài sản của các ngân hàng lớn, phần còn lại chủ yếu là tiền gửi và tiền vay. Nhưng đây là phần gánh lỗ trước tiên khi khoản vay xấu đi, trước khi rủi ro chạm tới tiền của người gửi.
Hơn nữa, vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng lớn tới các giới hạn an toàn, đặc biệt là CAR (tỷ lệ an toàn vốn). Nền vốn càng dày, dư địa để ngân hàng mở rộng tín dụng, tài trợ cho khách hàng lớn và các dự án hàng tỷ USD càng rộng.
Bảng xếp hạng vốn chủ sở hữu các nhà băng mới đây ghi nhận thêm kỷ lục mới khi VPBank trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên cán mốc 200.000 tỷ đồng. Báo cáo tài chính quý 3/2026 cho thấy, vốn chủ sở hữu của ngân hàng này đã đạt 200.078 tỷ đồng, tăng thêm 8.863 tỷ đồng chỉ trong quý 3 và gần 19.800 tỷ đồng so với đầu năm.
Trước đó, Vietcombank là ngân hàng đầu tiên trên toàn hệ thống làm được điều này, vượt 200.000 tỷ đồng trong năm 2025 và đến cuối quý 2/2026 đã đạt 248.491 tỷ đồng. Sau đó là VietinBank, đạt 200.214 tỷ đồng tại ngày 30/6/2026.
Techcombank cũng đang tiến sát mốc 200.000 tỷ. Cuối quý 3/2026, vốn chủ sở hữu của Techcombank đạt 197.325 tỷ đồng, tăng 8.328 tỷ đồng so với cuối quý 2 và gần 17.800 tỷ đồng so với đầu năm.
Đà tăng vốn của hai nhà băng tư nhân đến từ kết quả kinh doanh tích cực. 9 tháng đầu năm 2026, VPBank lãi trước thuế gần 30.000 tỷ đồng, tăng gần 47% so với cùng kỳ, riêng quý 3 lãi hơn 11.000 tỷ đồng. Techcombank ghi nhận quý 3 lãi trước thuế 10.375 tỷ đồng, mức cao nhất theo quý từ trước đến nay, nâng lũy kế chín tháng lên 28.915 tỷ đồng, tăng 23,7%. Phần lớn lợi nhuận được giữ lại, nên vốn chủ sở hữu của hai ngân hàng tăng gần tương ứng với số lãi làm ra mỗi quý.
"Câu lạc bộ" 200.000 tỷ này sẽ không dừng lại ở những ngân hàng kể trên. BIDV cũng sẽ vượt qua mốc này trong kỳ báo cáo tài chính quý 3/2026. Đồng thời Top 5 ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất này đang bỏ khá xa những ngân hàng từ Top 6 trở đi như MB, ACB, HDBank,…
Vốn chủ sở hữu thường dày lên bằng hai "con đường": giữ lại lợi nhuận, hoặc huy động tiền mới từ cổ đông. Đó là lý do hàng loạt ngân hàng triển khai các kế hoạch dùng lợi nhuận giữ lại để chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì chia cổ tức tiền mặt, hoặc trả một tỷ lệ nhỏ. Kết quả kinh doanh tích cực nhiều năm qua đã cho phép các ngân hàng thực hiện điều đó, với tỷ lệ chia cổ tức phổ biến 20-30%, thậm chí lên tới 50-100%.
Con đường thứ hai là chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, phát hành riêng lẻ hoặc bán vốn cho nhà đầu tư chiến lược, đem về lượng vốn lớn trong thời gian ngắn. Năm 2018, Techcombank đã huy động gần 1 tỷ USD từ nhà đầu tư nước ngoài trước thềm niêm yết, vốn chủ sở hữu tăng gần gấp đôi trong một năm. Năm 2019, BIDV bán 15% vốn cho KEB Hana Bank của Hàn Quốc. Năm 2023, SMBC của Nhật Bản mua 15% cổ phần VPBank , để lại khoản thặng dư vốn cổ phần khổng lồ vẫn nằm trên bảng cân đối của ngân hàng này đến nay.
Thực tế mỗi khi nói đến chuyện ngân hàng "tăng vốn", con số được nhắc tới nhiều nhất thường là vốn điều lệ. Nhưng với nhiều ngân hàng , con số này không phản ánh hết sức mạnh tài chính thực tế. Vốn chủ sở hữu mới là toàn bộ phần thuộc về cổ đông, gồm vốn điều lệ cộng thặng dư vốn cổ phần, các quỹ, lợi nhuận tích lũy qua nhiều năm và một số khoản khác. Tại thời điểm 30/9/2026, vốn điều lệ chỉ chiếm khoảng 36% vốn chủ sở hữu của Techcombank và 40% của VPBank .
Năm nay, cả Techcombank và VPBank đều chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. VPBank chia tỷ lệ 26%, nâng vốn điều lệ từ hơn 79.300 tỷ đồng lên khoảng 100.000 tỷ đồng. Techcombank chốt quyền chia tỷ lệ 50%, đưa vốn điều lệ từ hơn 70.800 tỷ đồng lên hơn 106.000 tỷ đồng. Tuy vậy, các đợt chia cổ tức này không làm vốn chủ sở hữu dày thêm. Tiền chỉ được chuyển từ ngăn lợi nhuận hoặc các quỹ sang ngăn vốn điều lệ.
Một thập kỷ qua, vốn chủ sở hữu của toàn bộ 28 ngân hàng trên sàn chứng khoán đã tăng hơn 4 lần lên hơn 1,8 triệu tỷ đồng. Nhưng hai con đường tăng vốn dẫn tới những tốc độ rất khác nhau. Nhóm tăng nhanh nhất có thể kể đến TPBank, Techcombank , SeABank, Nam A Bank, VPBank ,…
Bảng xếp hạng Top 10 tuy vẫn đúng chừng đó thành viên, nhưng thứ hạng bên trong đã xáo trộn mạnh. So sánh thời điểm cuối năm 2017 với 30/6/2026, VietinBank mất ngôi đầu vào tay Vietcombank. Techcombank vượt MB để lên thứ 5. ACB, HDBank và SHB mỗi ngân hàng lên một bậc. BIDV và VPBank giữ nguyên vị trí thứ 3 và thứ 4, nhưng khoảng cách giữa hai ngân hàng đã thu hẹp đáng kể. Sacombank là cái tên tụt sâu nhất, từ thứ 7 xuống cuối bảng.
Khác biệt không chỉ nằm ở khả năng tạo ra lợi nhuận mà còn nằm ở quyền tự quyết. Ngân hàng tư nhân có thể chủ động giữ lại lãi hoặc tìm cổ đông chiến lược khi cần. Tính đến 30/6/2026, vốn chủ sở hữu của Techcombank đã gấp 7 lần và VPBank gấp 6,4 lần năm 2017, nhanh nhất trong nhóm 10 ngân hàng lớn nhất.
Với Vietcombank, VietinBank và BIDV, Nhà nước là cổ đông lớn nhất. Giữ lại lợi nhuận thay vì nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách cần cấp có thẩm quyền phê duyệt, còn phát hành cổ phần mới bị giới hạn bởi yêu cầu Nhà nước giữ tỷ lệ chi phối. VietinBank chỉ tăng vốn chủ sở hữu 3,1 lần trong cùng giai đoạn. Vietcombank tăng 4,7 lần và BIDV tăng 4,1 lần.
Khác biệt về tốc độ tăng vốn hiện rõ trên bảng cân đối. Với chưa đầy 199.000 tỷ đồng vốn chủ sở hữu , BIDV đang vận hành khối tài sản khoảng 3,44 triệu tỷ đồng, tức tổng tài sản gấp khoảng 17 lần vốn chủ sở hữu . Tỷ lệ này ở VietinBank khoảng 14,8 lần và Vietcombank khoảng 10,7 lần. Trong khi đó, tổng tài sản của VPBank chỉ gấp khoảng 8 lần vốn chủ sở hữu , Techcombank khoảng 6,7 lần.