Thị Trường Hàng Hóa

Việt Nam làm được điều chưa từng có, sắp vượt Indonesia và Malaysia, cả Đông Nam Á phải nhìn bằng con mắt khác

Câu hỏi về một ngành công nghiệp ô tô "thuần Việt" cuối cùng đã có lời giải. Con số 60% nội địa hóa, tiến tới 80% nhờ cell pin Made in Vietnam từ VinFast sẽ đưa Việt Nam áp sát Thái Lan.

Việt Nam làm được điều chưa từng có, sắp vượt Indonesia và Malaysia, cả Đông Nam Á phải nhìn bằng con mắt khác - Ảnh 1

Ngày 13/4, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" nhằm đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế.

Ngành ô tô và lời giải cho bài toán năng lực nội sinh sau 40 năm Đổi mới

Phát biểu tại Hội thảo, ông Lê Khắc Hiệp - Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup nhận định, trong suốt 40 năm Đổi mới, một câu hỏi lớn luôn được đặt ra: Khi nào Việt Nam có thể sở hữu những ngành công nghiệp chế tạo có năng lực nội sinh đủ mạnh để dẫn dắt tăng trưởng dài hạn và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu?

Ngành công nghiệp ô tô, với tính chất tích hợp cao và yêu cầu công nghệ phức tạp chính là phép thử rõ nét nhất cho năng lực đó.

Trong nhiều năm trước đây, ngành ô tô Việt Nam chủ yếu dừng lại ở mức lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng bên ngoài. Doanh nghiệp trong nước khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị do hạn chế về công nghệ, vốn và quy mô thị trường.

Hệ quả là ngành tồn tại như một cấu trúc chưa hoàn chỉnh: Có thị trường tiêu thụ nhưng thiếu nền tảng công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh để tạo ra giá trị gia tăng bền vững.

Việt Nam làm được điều chưa từng có, sắp vượt Indonesia và Malaysia, cả Đông Nam Á phải nhìn bằng con mắt khác - Ảnh 2

VinFast trong bối cảnh đó xuất hiện với cách tiếp cận hoàn toàn khác về phát triển ngành. Thay vì đi theo con đường lắp ráp, VinFast lựa chọn xây dựng một tổ hợp sản xuất tự động hóa cao ngay từ đầu, với đầy đủ các công đoạn từ nghiên cứu phát triển tới dập, hàn, sơn, sản xuất động cơ và từng bước làm chủ các công nghệ lõi.

Đây là nền tảng để chuyển dịch từ “sản xuất phụ thuộc” sang “sản xuất tự chủ”.

VinFast định vị mình như một hạt nhân trong chuỗi sản xuất, đóng vai trò kết nối và dẫn dắt mạng lưới các nhà cung cấp. Chính cách tiếp cận này đã bắt đầu tái cấu trúc ngành ô tô Việt Nam theo hướng hình thành chuỗi liên kết kinh tế nội địa.

Tỷ lệ nội địa hóa 60% và tiến tới 80%, áp sát Thái Lan

Ông Lê Khắc Hiệp nhấn mạnh quy mô thị trường là yếu tố quyết định quá trình này. Năm 2025, việc VinFast bàn giao hơn 175.000 xe và trở thành thương hiệu ô tô số một tại Việt Nam đã tạo ra điều kiện nền tảng cho công nghiệp hỗ trợ phát triển.

Sản lượng thị trường đạt đến ngưỡng đủ lớn chính là tiền đề cho hiệu quả đầu tư của chuỗi công nghiệp hỗ trợ. Khi đó, doanh nghiệp phụ trợ mới có thể mạnh dạn đầu tư sâu vào dây chuyền sản xuất, công nghệ và nhân lực.

Với vai trò là doanh nghiệp hạt nhân, VinFast đã tạo ra lực kéo đủ mạnh để kích hoạt quá trình này, chuyển nhu cầu thị trường thành động lực phát triển cho toàn bộ chuỗi cung ứng.

Trên nền tảng quy mô đó, chiến lược nội địa hóa của VinFast đóng vai trò then chốt. Tính đến năm 2025, tỷ lệ nội địa hóa xe điện đã đạt khoảng 60% và hướng tới mục tiêu 80% khi cell pin được sản xuất tại Việt Nam vào năm 2026.

So sánh với các khu vực khác tại Đông Nam Á, tỷ lệ nội địa hóa trung bình của Thái Lan đạt 80 - 90%, tỷ lệ nội địa hóa xe lắp ráp trong nước của Indonesia đạt khoảng 60–80%, tùy mẫu xe và tỷ lệ này của Malaysia khoảng 65%-70%. Con số 60% hiện tại có nghĩa là VinFast đã gần bắt kịp với năng lực nội địa hóa trung bình của Indonesia và Malaysia.

Tác động của VinFast đối với công nghiệp hỗ trợ

Việt Nam làm được điều chưa từng có, sắp vượt Indonesia và Malaysia, cả Đông Nam Á phải nhìn bằng con mắt khác - Ảnh 3

Theo ông Hiệp, tác động của VinFast đối với công nghiệp hỗ trợ thể hiện rõ nhất ở sự thay đổi về chất.

Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp có năng lực cơ khí, điện tử nhưng không dám đầu tư vì thiếu thị trường ổn định. VinFast đã tạo ra sự bảo chứng này thông qua các hợp tác dài hạn và quy mô lớn. Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có thể tự tin đầu tư vào máy móc, nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành năng lực công nghiệp thực chất.

Đồng thời, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của VinFast buộc các nhà cung cấp phải nâng cấp toàn diện về tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng và tiêu chí phát triển bền vững. Quá trình này không chỉ giúp họ đáp ứng yêu cầu của VinFast mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia vào các chuỗi giá trị quốc tế khác.

Hiệu quả nhìn thấy rất rõ rệt. Ông Hiệp kể lại câu chuyện tại hội thảo về nội địa hóa cuối năm 2024 diễn ra tại nhà máy VinFast Hải Phòng, chủ một doanh nghiệp nội là đối tác dập thân vỏ, cửa đồng hành cùng VinFast từ 2017 cho biết, quy mô tài sản của doanh nghiệp đã tăng tới 12 lần sau 7 năm tham gia chuỗi cung ứng cho VinFast.

Bên cạnh đó, VinFast còn đóng vai trò xúc tác trong việc hình thành các cụm liên kết công nghiệp hỗ trợ. Thông qua các chương trình kết nối nhà cung cấp quy mô lớn, VinFast đã tạo ra một nền tảng để các doanh nghiệp trong nước gặp gỡ, hợp tác và cùng tham gia vào chuỗi giá trị. Đây là yếu tố then chốt để phát triển các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên sâu, vốn là nền tảng thành công của các quốc gia công nghiệp phát triển.

Tác động của VinFast không dừng lại trong phạm vi ngành ô tô mà lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của doanh nghiệp kéo theo nhu cầu từ nhiều ngành liên quan như cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu, logistics hay năng lượng, tạo ra hiệu ứng lan tỏa đa ngành.

Các trung tâm sản xuất VinFast ở Hải Phòng hay Hà Tĩnh trở thành cực tăng trưởng mới, thu hút lao động, dòng vốn và thúc đẩy phát triển hạ tầng. Ở cấp độ quốc tế, việc VinFast tham gia thị trường toàn cầu kéo theo các tiêu chuẩn quốc tế vào chuỗi cung ứng nội địa, tạo áp lực tích cực để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp năng lực và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam làm được điều chưa từng có, sắp vượt Indonesia và Malaysia, cả Đông Nam Á phải nhìn bằng con mắt khác - Ảnh 4

Dù vậy, ông Hiệp cho biết, quá trình hình thành chuỗi liên kết kinh tế và phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Năng lực doanh nghiệp nội địa chưa đồng đều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Yêu cầu về vốn và đầu tư cho nghiên cứu phát triển còn lớn. Cạnh tranh từ các nhà cung cấp quốc tế ngày càng gay gắt khi Việt Nam mở cửa sâu hơn.

Những thách thức này đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp dẫn dắt và hệ thống đào tạo cần phối hợp chặt chẽ để nâng cấp toàn bộ hệ sinh thái.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!