Ngày 5.5, Bộ Công thương công bố bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 3.3.2025 của Chính phủ.
Nghị định 56 quy định chi tiết một số điều của luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 điều 1 Nghị định số 100/2025/NĐ-CP ngày 8.5.2025 của Chính phủ, trong đó có đề xuất liên quan đến điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.

Nhà máy điện khí Nhơn Trạch 2 của Petrovietnam
ẢNH: MINH CHÂU - PETROVIETNAM
Theo Bộ Công thương , hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo lần này.
Trước đó, khi triển khai Nghị định 56 và Nghị định 100, nhiều chủ đầu tư phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Góp ý vào dự thảo lần này, các nhà đầu tư kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện 2 thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỷ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Sau khi tiếp thu, xem xét các kiến nghị từ nhà đầu tư, Bộ Công thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Nâng Qc điện khí sẽ gây áp lực lên giá điện bình quân
Theo lý giải từ Bộ Công thương , mức điều chỉnh Qc đối với dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên, Bộ Công thương vẫn nhận được nhiều ý kiến từ các chủ đầu tư cho rằng, mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85 - 95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20 - 25 năm.
Phản hồi đề xuất này, Bộ Công thương cho rằng, cơ quan soạn thảo dự thảo nghị định đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỷ lệ Qc tăng từ 80% trở lên có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó, dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy, Bộ Công thương đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Cũng theo Bộ Công thương , ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, tỷ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG...
Dự thảo nói trên đã nhận được ý kiến tham gia của 16 cơ quan, tổ chức, bao gồm các bộ, ngành: Tài chính, Tư pháp, Ngoại giao, Xây dựng, Quốc phòng… cùng nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN ), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV ), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam ) và các nhà đầu tư dự án điện khí LNG.