Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chính sách này sẽ tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại ưu tiên hơn nguồn vốn cho lĩnh vực du lịch , nhất là các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng và bất động sản dòng tiền. Tuy nhiên, tín dụng mới chỉ là một phần trong bài toán phát triển du lịch . Để đạt những mục tiêu lớn đến năm 2030, ngành du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, Việt Nam còn phải thực hiện đồng bộ nhiều chính sách về visa, quy hoạch, đất đai, hạ tầng giao thông, văn hóa, ẩm thực, vui chơi giải trí và xây dựng hệ sinh thái du lịch đủ sức thu hút, giữ chân du khách và gia tăng mức chi tiêu.

TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
“Cần mở rộng năng lực hạ tầng để thu hút khách”
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Công văn số 8509 nhằm bóc tách phần dư nợ tín dụng tăng thêm của nhà hàng, khách sạn, khu du lịch , nghỉ dưỡng ra khỏi trần tín dụng bất động sản năm 2026. Theo ông, công văn này có ý nghĩa ra sao đối với các ngân hàng thương mại? Quyết định này tháo gỡ rào cản tâm lý nào cho các tổ chức tín dụng khi giải ngân vào các dự án hạ tầng du lịch quy mô lớn?
Phải nói rằng đây là một biện pháp nới lỏng tín dụng có lựa chọn, có trọng điểm. Tức là không phải nới lỏng tín dụng một cách đại trà, mà tập trung vào một lĩnh vực được xác định có vai trò quan trọng là du lịch .
Việc Ngân hàng Nhà nước bóc tách phần dư nợ tín dụng tăng thêm của nhà hàng, khách sạn, khu du lịch , nghỉ dưỡng ra khỏi trần tín dụng bất động sản trước hết sẽ tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại có thêm dư địa trong việc cấp vốn cho lĩnh vực này.
Về bản chất, đây là một biện pháp nhằm khuyến khích phát triển ngành du lịch , đồng thời khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng của ngành. Khi tín dụng dành cho các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các loại hình bất động sản tạo dòng tiền được ưu tiên hơn, các ngân hàng sẽ có điều kiện thuận lợi để tiếp tục giải ngân cho những dự án phù hợp.
Tôi cho rằng chính sách này không phải là sự nới lỏng tín dụng chung, mà là ưu tiên tín dụng cho ngành du lịch , nghỉ dưỡng. Nó tạo thêm điều kiện để dòng vốn đi vào những lĩnh vực mà Việt Nam đang cần mở rộng năng lực hạ tầng để thu hút khách du lịch .
Du lịch vốn là ngành đầu tư “tiền chẵn, thu tiền lẻ”, với thời gian hoàn vốn dài. Việc “cởi trói” dư nợ du lịch khỏi trần tín dụng bất động sản sẽ giúp cấu trúc lại dòng vốn vay trung và dài hạn cho các doanh nghiệp như thế nào trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026?
Du lịch là một ngành có đặc thù rất rõ: bỏ ra một lượng vốn rất lớn ban đầu nhưng dòng tiền thu về lại được phân bổ trong một thời gian dài. Có thể nói là bỏ ra “tiền chẵn” nhưng thu về “tiền lẻ”. Vì thế, thời gian hoàn vốn của các dự án du lịch thường khá dài và doanh nghiệp cần nguồn vốn trung, dài hạn phù hợp với đặc điểm dòng tiền.
Việc Ngân hàng Nhà nước có chính sách nới tín dụng có lựa chọn như vậy sẽ khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch , đặc biệt là các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và những loại hình bất động sản dòng tiền.
Những bất động sản dòng tiền hiện đang phát triển khá mạnh ở các thành phố lớn và các trung tâm du lịch như Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội, TPHCM. Đây là những tài sản có khả năng tạo ra dòng tiền trong quá trình khai thác, nhưng để hình thành được những dự án như vậy thì cần nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn.
Đà Nẵng - một trong ba cực tăng trưởng du lịch quốc gia theo NQ26, là một trong những địa phương sở hữu hệ sinh thái du lịch - nghỉ dưỡng đồng bộ và tương đối hoàn thiện
Do đó, việc tách phần dư nợ này khỏi trần tín dụng bất động sản có thể tạo thêm điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và đưa các dự án vào khai thác. Đồng thời, nó cũng tạo thêm sức mua cho ngành du lịch và nghỉ dưỡng.
Có thể xem đây là một biện pháp ưu tiên tín dụng cho ngành du lịch , nghỉ dưỡng, qua đó tạo đà cho việc tăng thêm cơ sở hạ tầng để thu hút khách du lịch từ bên ngoài vào Việt Nam.
Hạ tầng du lịch giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đặc biệt trong bối cảnh Nghị quyết 26, việc “cởi trói” dư nợ du lịch khỏi trần tín dụng bất động sản có ý nghĩa thế nào trong việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch , đặc biệt là những “sếu đầu đàn” như Sun Group, tự tin sáng tạo sản phẩm mới, kiến tạo nên những công trình biểu tượng và các hệ sinh thái du lịch - nghỉ dưỡng - giải trí đẳng cấp hơn?
Nội dung của chính sách này là tạo điều kiện để những tập đoàn lớn trong lĩnh vực du lịch , nghỉ dưỡng có thể đầu tư và hình thành những khu du lịch có hệ sinh thái tốt, có tầm cỡ quốc tế để thu hút khách từ bên ngoài vào Việt Nam.
Hiện nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam vẫn còn tương đối ít so với một số quốc gia khác trong khu vực. Vì vậy, chúng ta cần phát triển những sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh quốc tế, và để làm được điều đó thì phải có cơ sở hạ tầng tương xứng.
Việt Nam có tiềm năng rất lớn về biển, miền núi, ẩm thực và hệ sinh thái xanh. Đây là những lợi thế rất lớn để phát triển du lịch . Nhưng muốn khai thác được những lợi thế đó thì phải có đầu tư vào hạ tầng và hình thành được những hệ sinh thái du lịch đủ lớn.
Một khu du lịch không chỉ đơn thuần là khách sạn hay nơi lưu trú. Nó phải có các dịch vụ nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, ẩm thực và nhiều hoạt động khác để tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Khi có những hệ sinh thái như vậy, chúng ta mới có khả năng thu hút khách quốc tế và giữ khách ở lại lâu hơn.
Đây cũng là một trong những biện pháp để thúc đẩy nhanh sự phát triển của ngành du lịch và qua đó thúc đẩy khu vực dịch vụ. Dịch vụ là một trong ba khu vực lớn của nền kinh tế và trong nhiều năm qua có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh và khá đồng đều.
Vì vậy, nếu phát triển được du lịch thì tác động không chỉ nằm trong riêng ngành du lịch mà còn lan sang nhiều lĩnh vực dịch vụ khác.
Theo Nghị quyết 26, Du lịch Việt Nam đặt ra những mục tiêu rất thách thức đến năm 2030, như đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa... Việc khơi thông mạch máu tín dụng theo Công văn 8509 sẽ tạo động lực và đòn bẩy ra sao cho ngành du lịch đạt được những mục tiêu đầy thách thức này khi mốc 2030 không còn xa?
Đây là một trong những biện pháp để phát triển hạ tầng du lịch . Nhưng để phát triển du lịch nói chung thì còn rất nhiều vấn đề khác phải giải quyết.
Trước hết là vấn đề visa. Muốn thu hút khách quốc tế thì phải mở rộng và tạo thuận lợi hơn về visa vào Việt Nam. Hiện nay, chính sách visa vẫn còn tương đối chặt chẽ so với yêu cầu phát triển du lịch quốc tế.
Thứ hai, phải gắn cơ sở hạ tầng với các dịch vụ du lịch khác. Không thể chỉ có khách sạn, khu nghỉ dưỡng mà phải có vui chơi, giải trí, ẩm thực và các hoạt động trải nghiệm.
Đặc biệt, cần kết nối các vùng du lịch với nhau, kết nối các điểm di sản với nhau để khách du lịch có thể ở lại lâu hơn và tiêu dùng nhiều hơn.
Nếu một du khách chỉ đến một điểm, ở một khách sạn rồi rời đi thì giá trị mà ngành du lịch tạo ra sẽ rất hạn chế. Nhưng nếu có thể kết nối nhiều điểm đến, nhiều sản phẩm và dịch vụ với nhau thì thời gian lưu trú sẽ dài hơn, mức chi tiêu cũng sẽ cao hơn.
Thứ ba, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch phải gắn với một môi trường du lịch xanh. Du lịch không chỉ là chuyện ăn và ở mà phải có cả một hệ sinh thái phù hợp để người ta nghỉ dưỡng.
Chẳng hạn như ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh, dưỡng sinh, vui chơi, giải trí... Tất cả những yếu tố đó phải được phát triển đồng bộ thì mới có thể tạo ra một điểm đến hấp dẫn.
Việt Nam có lợi thế rất lớn về tự nhiên, biển, miền núi, ẩm thực và hệ sinh thái xanh. Vấn đề là phải tổ chức và đầu tư để biến những lợi thế đó thành những sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh.
Đỉnh Fansipan cao 3.143 m giờ đây đã trở thành điểm đến được yêu thích hàng đầu miền Bắc nhờ được đầu tư bài bản, chuyên nghiệp và giàu bản sắc văn hóa
Nghị quyết 26 đặt ra các mục tiêu rất thách thức đến năm 2030: đóng góp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu khách quốc tế, đạt 80-90 tỷ USD doanh thu và 1,5 triệu buồng lưu trú. Theo ông, Công văn 8509 có phải là “đòn bẩy” tín dụng cần thiết và đúng lúc để hiện thực hóa những con số này? Bên cạnh nguồn vốn ngân hàng, du lịch Việt Nam còn cần thêm những chính sách hay nguồn lực đồng bộ nào khác để thực sự bứt tốc?
Tín dụng mới chỉ là một phần thôi, nhưng cũng là một trong những phần rất quan trọng để phát triển một hệ sinh thái du lịch tương đối đồng bộ.
Ngoài tín dụng, còn rất nhiều vấn đề khác. Chẳng hạn như văn hóa, ẩm thực, dưỡng sinh, vui chơi, giải trí, tiêu dùng và các dịch vụ đi kèm. Tất cả những lĩnh vực đó phải phát triển đồng bộ.
Nếu chỉ có nguồn vốn ngân hàng mà những yếu tố khác không được cải thiện thì rất khó để ngành du lịch đạt được những mục tiêu lớn đã đặt ra.
Chúng ta cần nhìn du lịch như một hệ sinh thái. Cơ sở lưu trú chỉ là một bộ phận. Muốn khách quốc tế đến nhiều hơn, ở lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn thì phải có sản phẩm để họ trải nghiệm, phải có dịch vụ để họ sử dụng và phải có hạ tầng kết nối để họ có thể di chuyển thuận lợi giữa các điểm đến.
Do đó, Công văn 8509 có thể tạo thêm động lực về vốn cho một mắt xích rất quan trọng là hạ tầng, nhưng sau đó phải có những chính sách khác đi cùng.
“Phải hình thành được một hệ sinh thái du lịch đủ sức cạnh tranh”
Từ Nghị quyết 26, Chương trình hành động đến Công văn 8509 của Ngân hàng Nhà nước, ông rút ra bài học gì về sự phối hợp giữa chính sách tài khóa - tiền tệ và chính sách phát triển ngành kinh tế mũi nhọn? Chúng ta cần thêm những “cú hích” đồng bộ nào khác về đất đai, quy hoạch hay đầu tư để chu kỳ bứt tốc của du lịch Việt Nam diễn ra bền vững?
Về phía chính sách, trước hết quy hoạch phải rõ ràng. Muốn thu hút đầu tư vào du lịch thì phải có quy hoạch rõ ràng để doanh nghiệp biết đầu tư ở đâu, đầu tư vào loại hình gì và phát triển theo hướng nào.
Thứ hai là vấn đề đất đai và chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài. Hiện nay, Luật Đất đai, Luật Nhà ở của Việt Nam vẫn có những quy định hạn chế nhất định đối với việc người nước ngoài mua nhà, sở hữu nhà, trong đó có quy định về tỷ lệ sở hữu không vượt quá 30% trong một số trường hợp.
Đây cũng là một hạn chế cần được nhìn nhận trong quá trình phát triển các dự án du lịch , nghỉ dưỡng quy mô lớn.
Thị trấn Hoàng Hôn góp phần hoàn thiện hệ sinh thái du lịch tại Phú Quốc.
Chúng ta có những lợi thế rất lớn về biển và những khu vực ven biển. Nhưng với những dự án có yếu tố đầu tư nước ngoài, việc sử dụng, sở hữu bất động sản tại những khu vực này phải tuân thủ những giới hạn nhất định liên quan đến đất đai, nhà ở và khu vực biên giới.
Điều đó khiến một số mô hình phát triển du lịch , nghỉ dưỡng quy mô lớn theo kiểu các thành phố du lịch quốc tế, chẳng hạn như Dubai, khó có thể áp dụng nguyên trạng tại Việt Nam.
Vì vậy, bên cạnh tín dụng, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về đất đai và quy hoạch, đồng thời có cơ chế phù hợp để huy động nguồn lực đầu tư vào những dự án du lịch lớn, nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu về quản lý đất đai, quốc phòng và an ninh.
Vấn đề thứ ba là visa. Muốn thu hút khách quốc tế thì phải tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách quốc tế vào Việt Nam.
Vấn đề thứ tư là kết nối hạ tầng giao thông. Các khu nghỉ dưỡng phải được kết nối với nhau, các điểm du lịch phải được kết nối với các điểm du lịch khác và với các di sản, để khai thác hiệu quả hơn.
Mục tiêu không chỉ là khai thác du lịch trong mùa hè mà phải làm sao để có thể khai thác được quanh năm. Muốn vậy, phải kết hợp nhiều loại hình khác nhau như nghỉ dưỡng, văn hóa, ẩm thực, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ khác.
Tất cả những vấn đề đó nằm trong một gói chính sách phát triển du lịch và nghỉ dưỡng. Tín dụng là một phần rất quan trọng, nhưng không thể chỉ dựa vào tín dụng.
Nếu quy hoạch rõ ràng, chính sách đất đai phù hợp, hạ tầng giao thông được kết nối, visa thuận lợi và các dịch vụ du lịch phát triển đồng bộ, thì nguồn vốn tín dụng mới có thể phát huy đầy đủ hiệu quả.
Nhìn tổng thể, điều quan trọng nhất là phải hình thành được một hệ sinh thái du lịch đủ sức cạnh tranh. Việt Nam có rất nhiều lợi thế tự nhiên và văn hóa, nhưng để biến những lợi thế đó thành năng lực cạnh tranh thực sự thì cần sự phối hợp đồng bộ của chính sách tiền tệ, tài khóa, đất đai, quy hoạch, đầu tư và phát triển dịch vụ.
Trân trọng cảm ơn ông!