Chủ trương đúng nhưng cần lộ trình phù hợp
Hiện tại, hoạt động xuất khẩu gạo được vận hành theo Nghị định 107/2018 của Chính phủ với nhiều quy định khiến doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ khó đáp ứng. Vì vậy, việc bãi bỏ giấy phép được kỳ vọng sẽ giảm chi phí gia nhập thị trường xuất khẩu cho nhiều đối tượng.

"Cởi trói" xuất khẩu gạo phải hướng đến nâng cao thu nhập nông dân trồng lúa
ẢNH: DUY TÂN
TS Trần Hữu Hiệp (Trường ĐH FPT) nhận xét: Đề xuất bãi bỏ giấy phép kinh doanh xuất khẩu gạo là bước đi đúng hướng trong cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo. Thứ nhất, giảm rào cản gia nhập thị trường, khơi thông nguồn lực DN. Cơ chế cấp phép lâu nay vô hình trung tạo "điểm nghẽn", bỏ giấy phép sẽ mở rộng "sân chơi", thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Thứ hai, khi nhiều chủ thể tham gia buộc DN đầu tư vào chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu. Điều này giúp chuyển dịch từ "bán gạo số lượng" sang "bán gạo chất lượng", nâng giá trị xuất khẩu và vị thế gạo Việt trên thị trường quốc tế. Thứ ba, phù hợp xu thế hội nhập và cải cách. Các hiệp định thương mại tự do đòi hỏi môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng. Việc duy trì giấy phép mang tính hành chính không còn phù hợp, trong khi Nhà nước có thể chuyển sang công cụ quản lý hiện đại hơn như tiêu chuẩn, dữ liệu thị trường và cơ chế hậu kiểm.
Dù vậy, TS Hiệp lưu ý, dù muốn hay không, gạo vẫn là ngành hàng đặc thù và cốt lõi của câu chuyện xuất khẩu gạo phải hướng đến việc nâng cao thu nhập, đời sống người trồng lúa. Để làm được điều này cần có kế hoạch hành động bao gồm: xây dựng hệ thống dự trữ và điều tiết thông minh, với ngưỡng cảnh báo sớm, cơ chế can thiệp linh hoạt khi thị trường biến động, tránh sốc cung - cầu trong nước. Song song đó, thiết lập chuẩn mực bắt buộc về chất lượng và liên kết chuỗi, yêu cầu DN xuất khẩu phải có hợp đồng liên kết với vùng nguyên liệu, minh bạch giá thu mua, chia sẻ lợi ích với nông dân, tránh tình trạng "mua đứt bán đoạn" gây thiệt thòi cho người trồng lúa. Đặt trong bối cảnh đó, việc bỏ giấy phép xuất khẩu gạo phải có lộ trình và điều kiện đi kèm. Trong ngắn hạn, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, công bố bộ tiêu chuẩn kỹ thuật, bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc. Trung hạn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu thị trường, hệ thống dự trữ và công cụ điều tiết. Về lâu dài, có chính sách khuyến khích DN đầu tư vùng nguyên liệu, hợp tác xã và hợp đồng bao tiêu thực chất, có tính ràng buộc pháp lý.
Bỏ điều kiện có khiến thị trường lộn xộn?
Ông Đinh Minh Tâm, một chuyên gia ngành gạo, từng điều hành một DN lớn ở Đồng Tháp, nhận xét chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh là rất tốt, phải được ủng hộ. Tuy nhiên, gạo là lĩnh vực đặc thù nên khi mở cũng cần phải được thảo luận và cân nhắc thật cẩn thận. "Ví dụ, DN gạo mà tôi điều hành trước đây có giá gạo ST25 xuất khẩu đến 1.200 USD/tấn, trong khi cao nhất thị trường lúc đó chỉ 700 - 800 USD/tấn. Sự khác biệt là chúng tôi tổ chức sản xuất từ đồng ruộng theo các tiêu chuẩn quốc tế, nên gạo đạt độ thuần cao, đây là yếu tố rất quan trọng trong ngành. Nhưng nếu ai cũng có thể xuất khẩu gạo mà không cần bất kỳ điều kiện gì thì ai sẽ tham gia đồng hành cùng người nông dân phát triển vùng nguyên liệu? Không ai sở hữu vùng nguyên liệu thì sẽ tự do đấu trộn, chạy đua cạnh tranh về giá. Lúc đó, cửa để gạo VN vào các thị trường cao cấp càng khó khăn hơn", ông Tâm băn khoăn.
Là người gắn bó suốt nửa thế kỷ với ngành lúa gạo, ông Phạm Hoàng Lâm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lam Rice Group (An Giang), phân tích: VN xuất khẩu gạo thứ 2 - 3 thế giới nhưng gạo Việt mấy chục năm qua chỉ có lượng lớn mà giá trị thấp và không có thương hiệu. Các điều kiện kinh doanh với ngành gạo được đặt ra nhằm giải quyết điểm yếu này. Hiện tại, VN có một số DN khá lớn được đầu tư bài bản về cơ sở chế biến, vùng nguyên liệu…; nếu nay bỏ hết giấy phép thì các DN này sẽ phải cạnh tranh với các đơn vị chỉ có hợp đồng là xuất khẩu. Vì thế, nếu không có cơ chế quản lý phù hợp, thị trường có thể phát triển theo hướng giá thấp, chất lượng không đồng đều và rủi ro cao.
"Xuất khẩu nhiều là cần thiết, nhưng xuất khẩu có giá trị và có uy tín mới là mục tiêu dài hạn. Một ngành hàng lớn không thể phát triển bền vững nếu thiếu kỷ luật thị trường. Và một thương hiệu quốc gia không thể hình thành nếu chất lượng không được kiểm soát", ông Lâm lưu ý.
Một lãnh đạo Hiệp hội Lương thực VN (VFA) cho biết vẫn đang theo dõi và tập hợp ý kiến, kiến nghị của DN về vấn đề này. Bởi dù muốn hay không, ngành gạo vẫn đảm nhiệm vai trò an ninh lương thực quốc gia chứ không đơn thuần chỉ là thương mại. Việc cải cách thủ tục hành chính trong ngành gạo cần tiến hành theo lộ trình phù hợp. "Trước tiên, để tạo môi trường thông thoáng hơn, có thể bỏ bớt một số điều kiện như: yêu cầu nhà máy xay xát hay việc cấp phép xuất khẩu theo chuyến. Nếu bỏ được các yêu cầu này thì điều kiện kinh doanh của VN cũng gần tương đồng với các nước như Ấn Độ hay Thái Lan", vị này nói.
Điều bà con mong muốn nhất là Nhà nước tổ chức triển khai mô hình sản xuất lớn theo Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Gắn kết nông dân với DN lớn có uy tín, thương hiệu nhằm ổn định đầu ra và giá cả. Có như vậy nông dân mới tiếp tục yên tâm sản xuất. Còn trước nay, lúc lúa có giá thì thương lái, DN tranh nhau mua; đến khi rớt giá lại quay sang đè giá xuống.
Ông Dương Văn Siêu, Phó giám đốc HTX Thuận Thắng (TP.Cần Thơ)