NGUY CƠ "CHƯA GIÀU ĐÃ GIÀ"
Theo dự báo mới nhất của Cục Thống kê, thời kỳ cơ cấu "dân số vàng " và giai đoạn dân số già sẽ đến với VN sớm hơn các dự báo trước đó. VN chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng " từ năm 2007 khi tỷ trọng dân số trẻ em (từ 0 - 14 tuổi) nhỏ hơn 30%, tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nhỏ hơn 15%. Trong suốt giai đoạn 2024 - 2035, dân số trong độ tuổi lao động (15 - 64 tuổi) duy trì ở mức rất cao, từ 67,4% năm 2024 xuống 66,9% năm 2035.

Cơ cấu dân số vàng của VN là cơ hội để làm gia tăng năng suất, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ
ảnh: Nhật Thịnh
Các chuyên gia nhận định lực lượng đông đảo này tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực. Nhưng đến năm 2036, tỷ trọng người cao tuổi tăng lên 15%, được xem là thời điểm VN chính thức bước ra khỏi giai đoạn "dân số vàng ". So với dự báo năm 2019, thời kỳ dân số vàng của VN sẽ kết thúc sớm hơn 3 năm. Điều quan trọng là cơ hội này chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử mỗi quốc gia và thường kéo dài 30 - 45 năm. VN đã tận dụng được cơ cấu "dân số vàng " 20 năm và hiện còn khoảng 10 năm.
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình , quyền Viện trưởng Viện Phát triển chính sách và năng lực lãnh đạo ĐHQG-HCM, nhận định: Nguy cơ "chưa giàu đã già" của VN là hiện hữu, đó là xu hướng tự nhiên của phát triển - tốc độ già hóa đang nhanh hơn tốc độ tích lũy về thu nhập, năng suất và năng lực an sinh. Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 cho thấy người từ 65 tuổi trở lên đã chiếm 9,3% dân số; số người từ 60 tuổi trở lên khoảng 14,2 triệu. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người năm 2025 mới khoảng 5.026 USD, năng suất lao động khoảng 245 triệu đồng/người và tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,2%. Đáng lưu ý, khoảng 76% người cao tuổi chưa có lương hưu.
Những con số này cho thấy VN đang bước nhanh vào xã hội già khi "bộ đệm" về năng suất, thu nhập và an sinh vẫn còn mỏng. Điều này sẽ tác động đến kinh tế - xã hội trên 3 mặt. Đó là nguồn lao động tăng chậm lại, khiến tăng trưởng không thể tiếp tục dựa nhiều vào số lượng lao động mà phải chuyển mạnh sang năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Kế tiếp là chi phí lương hưu, y tế, điều trị bệnh mãn tính và chăm sóc dài hạn sẽ tăng nhanh, tạo sức ép lên ngân sách và các gia đình. Cuối cùng là gánh nặng chăm sóc người cao tuổi có thể làm giảm khả năng tham gia thị trường lao động của một bộ phận dân số trong độ tuổi làm việc, đặc biệt là phụ nữ.
"Tuy nhiên, già hóa không đồng nghĩa với suy giảm. Nếu chuẩn bị sớm, đây cũng là động lực hình thành "kinh tế bạc" với các ngành y tế, chăm sóc tại nhà, bảo hiểm, nhà ở, công nghệ hỗ trợ và dịch vụ cho người cao tuổi. Theo tôi, VN không thể ngăn dân số già đi, nhưng hoàn toàn có thể tránh "già trước khi giàu" nếu năng suất, thu nhập và hệ thống an sinh tăng nhanh hơn tốc độ già hóa", PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình cho hay.
VN phải gắn chuyển đổi dân số với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lao động phải được đào tạo đúng kỹ năng thị trường cần
ảnh: Đào Ngọc Thạch
BIẾN THÀNH CƠ HỘI PHÁT TRIỂN
Báo cáo nghiên cứu "Tận dụng cơ hội dân số vàng : Cơ hội, thách thức và gợi ý chính sách" được Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) thực hiện đưa ra một số ví dụ về các nước và vùng lãnh thổ tận dụng được cơ hội này. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore tăng trưởng liên tục với tốc độ hơn 5%/năm, trong khi Thái Lan và Indonesia tăng trưởng chậm hơn. Tuy nhiên, so với các nước khác, tốc độ tăng của các nước Đông Á và Đông Nam Á đều cao hơn rõ rệt. ASEAN-4 (gồm Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines) phải cần vài thập kỷ mới có thể đạt được năng lực tăng trưởng và phát triển công nghiệp mà Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore có được chỉ sau 2 thập kỷ.
Vậy lý do là gì? Báo cáo cho biết, nhiều nghiên cứu đã phân tích sự phát triển thần kỳ của Đông Á mà ở đó biến đổi cơ cấu tuổi của dân số đóng vai trò quan trọng. Theo nghiên cứu của hai nhà kinh tế học David E.Bloom và Jeffrey G.Williamson (xuất bản năm 1998), sự dịch chuyển cơ cấu độ tuổi dân số đã đóng góp khoảng 30% vào mức tăng trưởng kinh tế "thần kỳ" tại khu vực Đông Á. Các nghiên cứu tương tự về Đông Á chỉ ra một số nhân tố cơ bản đóng góp cho tăng trưởng thần kỳ của khu vực này, đó là nguồn nhân lực dồi dào và có chất lượng, dân số ổn định, tăng trưởng việc làm cao, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao.
Tương tự, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) năm 2003 đã tổng kết bài học của Nhật Bản trong việc tận dụng cơ hội "dân số vàng " cho giai đoạn "tăng trưởng thần kỳ", trong đó hàng loạt chính sách về sức khỏe sinh sản và hệ thống kinh tế vĩ mô được thực hiện đồng bộ. Giai đoạn 1960 - 1990, thu nhập bình quân đầu người ở Đông Á tăng trưởng ấn tượng hơn 6%/năm. Nguyên nhân là nhờ tỷ lệ tham gia thị trường lao động cao của thế hệ bùng nổ dân số (từ cuối thập niên 1940), giúp lực lượng lao động tăng trung bình 2,4%/năm và kéo giảm mạnh tỷ số phụ thuộc kinh tế. Cùng lúc đó, việc làm và năng suất lao động của các ngành, đặc biệt là dịch vụ, công nghiệp chế tạo, tăng lên nhanh chóng. Số lượng lao động ngành nông nghiệp giảm nhưng năng suất lại tăng, thậm chí còn tăng cao nhất trong các ngành, nên vẫn đảm bảo được nguồn cung lương thực, thực phẩm cho xã hội. Nguồn lực trong nước được huy động tối đa và có hiệu quả nên quá trình "nội lực hóa" diễn ra nhanh, mạnh và là nhân tố quyết định đến tăng trưởng cao, kéo dài ở các nước Đông Á. Trong suốt giai đoạn 1960 - 1990, tốc độ tăng mức tư bản tích lũy bình quân lao động đạt trung bình 7,6%/năm ở Nhật Bản và vượt mức 8,5%/năm tại Hàn Quốc và Đài Loan.
Theo PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình , Hàn Quốc là trường hợp rất đáng tham khảo. Thành công của họ cho thấy "dân số vàng " chỉ là cơ hội, không tự động trở thành tăng trưởng. Trong giai đoạn có cơ cấu dân số thuận lợi, Hàn Quốc đồng thời đầu tư mạnh cho giáo dục và kỹ năng, phát triển công nghiệp chế tạo hướng xuất khẩu, nâng năng lực doanh nghiệp và đưa lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao. Nói cách khác, họ không chỉ có nhiều người trong độ tuổi lao động, mà còn tạo được việc làm có năng suất ngày càng cao cho lực lượng đó.
Trong khi đó, Singapore cho thấy vai trò của giáo dục gắn với nhu cầu doanh nghiệp và quản trị hiệu quả. Trung Quốc cho thấy sức mạnh của quá trình chuyển dịch lao động quy mô lớn từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị. Còn Nhật Bản nhắc chúng ta rằng lợi thế "dân số vàng " có thời hạn và phải chuẩn bị rất sớm cho giai đoạn già hóa.
Dành cho bạn
- Vụ nam sinh đánh cô giáo ở Hà Nội: Thương tích 12%, nhà trường thông tin nguyên nhân
- Tổng thống Pháp tuyên bố cứng rắn trước làn sóng biểu tình
- TP.HCM dự kiến hạn chế xe xăng, dầu vào trung tâm từ 2028: Lộ trình ra sao?
Từ đó, PGS Tình nhấn mạnh: Bài học với VN là phải gắn chuyển đổi dân số với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Lao động phải được đào tạo đúng kỹ năng thị trường cần; doanh nghiệp phải có khả năng đổi mới và hấp thụ công nghệ; FDI phải tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước; nguồn lực phải được phân bổ vào những khu vực có năng suất cao hơn. Đặc biệt, bối cảnh hiện nay khác Đông Á vài thập niên trước. AI, tự động hóa, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng đang làm thay đổi rất nhanh yêu cầu kỹ năng. Vì vậy, "dân số vàng " của VN chỉ có giá trị nếu được chuyển thành "năng suất vàng".
Người trẻ có lợi thế tiếp cận nhanh, học hỏi nhanh về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
ảnh: Ngọc Dương
BIẾN "DÂN SỐ VÀNG" THÀNH "NĂNG SUẤT VÀNG"
Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (Hội Truyền thông số VN), cho rằng một trong những điểm yếu của VN hay được nhắc đến là năng suất lao động còn thấp. Hiện Đảng và Chính phủ đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế tăng trưởng cao, dựa trên các động lực mới, đặc biệt khoa học - công nghệ, sáng tạo đổi mới… sẽ là cơ hội cho VN. Đối với lĩnh vực khoa học - công nghệ nói chung thì "dân số vàng " sẽ là lợi thế lớn nhất của VN. Người trẻ tiếp cận nhanh, học hỏi nhanh về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ông Nguyễn Quang Đồng nhấn mạnh các chiến lược phát triển đều đã được đưa ra. Ví dụ, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục - đào tạo… đều có mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu cho các ngành ưu tiên phát triển như AI, bán dẫn…
Để làm được điều đó, cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên cho các trường, viện, cũng như tích cực tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ. Bởi khi thị trường phát triển, doanh nghiệp lớn mạnh thì nguồn nhân lực mới có cơ hội phát huy được trí tuệ, năng lực và cống hiến cho đất nước.
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình cũng cho rằng đây không còn chỉ là bài toán dân số mà là bài toán năng suất quốc gia. Cửa sổ "dân số vàng " đang thu hẹp. VN do đó phải chuyển rất nhanh từ lợi thế "nhiều lao động" sang lợi thế "lao động tạo ra giá trị cao".
Thứ nhất, cần một cuộc chuyển đổi mạnh về kỹ năng. Năm 2025, tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,2%. Đào tạo phải bám sát nhu cầu doanh nghiệp, tăng đào tạo nghề và nâng kỹ năng cho người đang làm việc. Kỹ năng số, dữ liệu, AI, tự động hóa, kỹ năng xanh, ngoại ngữ và khả năng học lại phải trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động.
Thứ hai, phải đặt doanh nghiệp vào trung tâm của bài toán năng suất. Công nghệ chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp đủ năng lực quản trị, tiếp cận được vốn, dữ liệu và thị trường, đồng thời có môi trường để mở rộng. Vì vậy, cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng hiệu quả phân bổ vốn và đất đai, thúc đẩy cạnh tranh và giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị phải được xem là chính sách dân số theo nghĩa rộng.
Thứ ba, cần khai thác tốt hơn lực lượng lao động hiện có. Dư địa không chỉ nằm ở lớp trẻ mà còn ở phụ nữ, lao động trung niên, người lớn tuổi còn khả năng làm việc và khu vực phi chính thức. Muốn vậy phải giảm các rào cản về chăm sóc trẻ em, chăm sóc người phụ thuộc, nhà ở, di chuyển và hình thức việc làm linh hoạt.
Thứ tư, phải chuẩn bị ngay cho xã hội già: mở rộng độ bao phủ hưu trí, tăng năng lực y tế dự phòng và quản lý bệnh mãn tính, đồng thời phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn. Chính sách khuyến sinh là cần thiết, nhưng không thể giải quyết bài toán lao động trong ngắn hạn vì một trẻ sinh ra hôm nay phải mất khoảng 2 thập niên mới gia nhập thị trường lao động.
PGS Tình nhấn mạnh: Thời gian của lợi thế dân số vàng không còn dài. Từ nay đến năm 2045, VN phải biến "cơ cấu dân số thuận lợi" thành "năng suất cao, doanh nghiệp mạnh và thể chế hiệu quả". Nếu không làm được điều đó trong thập niên tới, chúng ta có thể mất lợi thế dân số trước khi tạo đủ nền tảng để bước vào nhóm nước thu nhập cao.
Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận định: VN thuộc nhóm nước già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất toàn cầu. Nếu Pháp mất tới 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm để tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14% thì VN chỉ mất khoảng 25 năm để hoàn tất quá trình chuyển đổi này - tương đương tốc độ của Nhật Bản và Thái Lan.
Cần 4 nhóm chính sách quan trọng Theo báo cáo nghiên cứu "Tận dụng cơ hội dân số vàng :
Cơ hội, thách thức và gợi ý chính sách" được Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) công bố, thời gian qua, VN đã phần nào hiện thực hóa lợi tức từ biến đổi cơ cấu tuổi dân số cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu so với các nước Đông Á với đóng góp của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế là 30% thì con số mà VN đã tận dụng vẫn còn rất khiêm tốn.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội của VN hiện nay và trước cơ hội "vàng" của dân số, cần có 4 nhóm chính sách quan trọng, mang tính chiến lược để hiện thực hóa có hiệu quả tác động của dân số đến tăng trưởng. Đó là: nhóm chính sách giáo dục và đào tạo; nhóm chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực; nhóm chính sách dân số, gia đình và y tế; nhóm chính sách an sinh xã hội.