Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 87 công ty chứng khoán (CTCK) được cấp phép nhưng cuộc chơi lại đang tập trong ở một nhóm nhỏ khoảng 10-15 cái tên. Các CTCK này chiếm phần lớn thị phần giao dịch và dư nợ cho vay trên thị trường, trong khi hàng chục công ty còn lại chia nhau miếng bánh khiêm tốn.
Số ít CTCK nắm phần lớn thị phần giao dịch và cho vay
Theo thống kê thị phần giao dịch trên HoSE trong quý 3/2026, 10 công ty chứng khoán lớn nhất chiếm tổng cộng khoảng 65% thị phần . Điều đó đồng nghĩa khoảng gần 80 công ty còn lại phải chia sẻ 35% thị phần . Chỉ riêng 4 cái tên là VPS, SSI, TCBS và Vietcap đã chiếm khoảng hơn 40% thị phần , tức là lớn hơn cả tổng thị phần của tất cả các CTCK ngoài top 10.
Đáng chú ý, những CTCK nằm cuối top 10 thị phần giao dịch ở mức dưới 3%. Điều này cho thấy rất nhiều CTCK gần như không có khách hàng giao dịch .
"CTCK zombie" có thể được dùng để mô tả một nhóm tồn tại về mặt pháp lý nhưng thiếu động lực tăng trưởng, hoạt động kinh doanh cốt lõi hạn chế và khó tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Nếu môi giới phản ánh khả năng thu hút và duy trì khách hàng, hoạt động cho vay lại cho thấy một khía cạnh khác: năng lực tài chính và khả năng khai thác nguồn vốn của các công ty chứng khoán . Tính đến cuối quý 3/2026, 15 CTCK có quy mô cho vay lớn nhất ghi nhận tổng dư nợ khoảng 339.000 tỷ đồng, chiếm 75% tổng toàn thị trường, gấp 3 lần phần còn lại (hơn 70 công ty).
Đây đều là những cái tên có quy mô hoạt động lớn, sở hữu tệp khách hàng đáng kể và có khả năng đầu tư mạnh cho nền tảng giao dịch , sản phẩm cũng như dịch vụ tài chính. Đặc biệt, TCBS dẫn đầu với dư nợ khoảng 55.000 tỷ đồng, tiếp đến là VPBankS, SSI và HSC, đều là những công ty có tiềm lực tài chính và khả năng huy động vốn tương đối lớn.
Có thể thấy, hoạt động kinh doanh cốt lõi của ngành chứng khoán ngày càng tập trung vào nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn. Một bên là thị phần môi giới, một bên là khả năng cung cấp vốn cho nhà đầu tư, tất cả đều đang đổ dồn về những cái tên top đầu khiến cho miếng bánh dành cho phần còn lại ngày càng thu hẹp.
Sự phân hóa này không đơn thuần là câu chuyện về thứ hạng. Nó phản ánh khoảng cách ngày càng lớn về năng lực tài chính, quy mô khách hàng, công nghệ và khả năng phát triển hệ sinh thái dịch vụ. Và trong một ngành mà lợi thế quy mô ngày càng quan trọng, không phải công ty nào cũng có thể tiếp tục tồn tại độc lập một cách hiệu quả.
Miếng bánh thị phần ngày càng bé và cuộc chơi “Shadow banking”
Một điểm đáng chú ý là miếng bánh giao dịch đang nhỏ lại. Thanh khoản thị trường đã chia 3 so với thời điểm cách đây một năm. Không còn các phiên giao dịch tỷ USD, thay vào đó giá trị khớp lệnh bình quân trên HoSE giờ chỉ còn khoảng 13.000 tỷ đồng mỗi phiên. Trong bối cảnh đó, dư nợ cho vay toàn thị trường vẫn tăng lập kỷ lục mới.
Điều này phản ánh một xu hướng đã, đang và sẽ còn mở rộng trong ngành chứng khoán , đó là “Shadow banking”. Trong 18 CTCK có dư nợ cho vay trên 10.000 tỷ đồng vào cuối quý 3 vừa qua, có đến 12 cái tên có sự hậu thuẫn bởi các ngân hàng. Tổng dư nợ nhóm này lên đến 240.000 tỷ, chiếm hơn một nửa toàn thị trường và mức tăng dư nợ cũng vượt trội phần còn lại.
Sự áp đảo của các CTCK có ngân hàng đứng sau trong cuộc chiến mở rộng quy mô cho vay không phải là hiện tượng. Đây là một xu hướng đã diễn ra trong một thời gian dài khi các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng chưa thể tiếp cận được kênh tín dụng ngân hàng và hoạt động phát hành trái phiếu gặp khó.
Một phần dư nợ cho vay từ các CTCK không đi vào giao dịch , hay nói cách khác là không đến từ nhu cầu đòn bẩy của nhà đầu tư cá nhân. Thay vào đó, dư nợ tăng do các deal cho vay với các tổ chức, lãnh đạo doanh nghiệp. Nhiều CTCK đóng vai trò là một đầu ra tín dụng cho ngân hàng với tính linh hoạt cao hơn.
Cơ hội nào cho những cái tên top sau?
Xu hướng “Shadow banking” cũng mở ra cơ hội để các CTCK nhỏ có thể vươn lên trong cuộc chơi chung của ngành. Trong ngành chứng khoán , vốn chủ sở hữu không chỉ quyết định quy mô hoạt động mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng mở rộng dư nợ cho vay ký quỹ, đầu tư tự doanh, bảo lãnh phát hành và phát triển các sản phẩm tài chính mới.
Không chỉ vậy, các CTCK có tiềm lực tài chính mạnh còn có điều kiện đầu tư vào hệ thống giao dịch , dữ liệu, bảo mật và công nghệ. Điều này khiến các hoạt động “bán mình” diễn ra phổ biến hơn trong ngành chứng khoán . Thời gian qua, nhiều ngân hàng cũng đã có động thái tăng sở hữu, mở rộng quy mô ảnh hưởng hay thậm chí là thâu tóm các CTCK.
Các CTCK nằm trong hệ sinh thái ngân hàng có thể tận dụng mạng lưới phân phối, tệp khách hàng và nguồn lực huy động vốn của ngân hàng mẹ. Trong khi đó, những doanh nghiệp độc lập phải tự xây dựng mạng lưới khách hàng, thương hiệu và năng lực huy động vốn. Khả năng tiếp cận nguồn vốn và quy mô khách hàng đang ngày càng tạo ra sự khác biệt về năng lực cạnh tranh.
Đặc biệt, cuộc đua không chỉ nằm ở việc ai có nhiều vốn hơn, mà còn là ai có thể chuyển hóa nguồn vốn thành doanh thu và lợi nhuận hiệu quả hơn. Một CTCK có vốn lớn nhưng không tạo dựng được tệp khách hàng đủ rộng, không khai thác được dư địa cho vay hoặc thiếu các mảng kinh doanh bổ trợ vẫn có thể gặp khó khăn trong việc duy trì hiệu quả hoạt động.
Ngược lại, những công ty có quy mô đủ lớn, hệ sinh thái khách hàng tốt và danh mục sản phẩm đa dạng có thể tạo ra vòng lặp tăng trưởng: vốn lớn giúp mở rộng cho vay , khách hàng tăng giúp cải thiện doanh thu, lợi nhuận tích lũy lại tiếp tục củng cố năng lực tài chính. Đây chính là khoảng cách mà những CTCK nhỏ ngày càng khó san lấp.
Nhìn chung, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, với kỳ vọng nâng hạng, thu hút dòng vốn quốc tế, gia tăng quy mô nhà đầu tư và phát triển các sản phẩm tài chính mới. Cơ hội dành cho ngành chứng khoán vì thế cũng lớn hơn đáng kể nhưng không đồng nghĩa mọi công ty đều có thể hưởng lợi như nhau.
Các CTCK quy mô nhỏ, không có các ngân hàng/tổ chức lớn hậu thuẫn sẽ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn này. Vì thế, sẽ không bất ngờ nếu sáp nhập trở thành xu hướng phổ biến trong ngành chứng khoán thời gian tới.