Làm mới các động lực tăng trưởng cũ

Đại công trình mở không gian phát triển lớn

Trong năm đầu tiên của kỷ nguyên đất nước vươn mình, loạt dự án hạ tầng lớn được hoàn thành hoặc đang tăng tốc về đích đang mở ra những không gian phát triển mới. Sân bay Long Thành không chỉ là một dự án hàng không, mà đang kéo theo hệ thống cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, Bến Lức - Long Thành, Biên Hòa - Vũng Tàu, Tân Vạn - Nhơn Trạch, Vành đai 4 TP.HCM và các tuyến đường sắt kết nối. Cùng với đó là sự hình thành một không gian kinh tế, logistics và hàng không liên kết chặt chẽ với nhau. Tương tự, Vành đai 3 và Vành đai 4 TP.HCM khi được kết nối với các khu công nghiệp, kho vận, nối các đô thị, sẽ giúp mở rộng không gian sản xuất và dịch vụ ra các địa bàn lân cận.

Làm mới các động lực tăng trưởng cũ - Ảnh 1

Các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn đang tạo thêm không gian phát triển cho đất nước

ẢNH: NHẬT THỊNH

Ở phía bắc, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hướng tới kết nối các địa phương trong nước với mạng lưới đường sắt Trung Quốc và khu vực cảng Hải Phòng có thể hình thành một hành lang logistics - thương mại, kết nối vùng sản xuất với cảng biển và thị trường quốc tế. Trong khi đó, cảng nước sâu Lạch Huyện ở Hải Phòng, khi kết hợp với logistics, công nghiệp và khu thương mại tự do, không chỉ thực hiện chức năng xếp dỡ hàng hóa mà còn tạo điều kiện hình thành một hệ sinh thái kinh tế mới. Mô hình phát triển khi đó không dừng ở cảng biển mà mở rộng theo chuỗi: cảng - logistics - khu thương mại tự do - công nghiệp - dịch vụ - đô thị.

Tương tự, trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh, loạt dự án điện lớn bổ sung hàng ngàn MW điện ổn định cũng được gấp rút triển khai quyết liệt. Trong đó, chuỗi khí Lô B - Ô Môn không chỉ bổ sung hàng ngàn MW điện cho khu vực Tây Nam bộ, mà còn tạo nền tảng cho một trung tâm công nghiệp - năng lượng, phục vụ các ngành sử dụng khí, điện và công nghiệp chế biến. Tại Đông Nam bộ, các dự án nhiệt điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành thương mại, kéo theo nhu cầu hoàn thiện chuỗi hạ tầng nhập khẩu, tồn trữ, cung ứng LNG và truyền tải điện.

Những ví dụ trên cho thấy giá trị của một công trình không chỉ nằm ở quy mô vốn mà ở những hoạt động kinh tế có thể hình thành sau khi công trình được đưa vào sử dụng. Trong 8 tháng tính từ đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 546.800 tỉ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ và bằng 50,5% kế hoạch năm. Riêng giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 510.000 tỉ đồng, bằng 49,8% kế hoạch. Với hệ quy chiếu mới, khoản vốn công này đã bơm thêm một nguồn năng lượng lớn cho nền kinh tế.

Điều này lý giải vì sao trong năm bản lề của kỷ nguyên mới, Việt Nam đã khởi công, khánh thành hàng trăm công trình lớn, bé trên cả nước. Đó chính là bệ phóng cho mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn tiếp theo.

Hạ tầng năng lượng là một phần của năng lực phát triển mới, bảo đảm nền tảng điện cho công nghiệp, công nghệ cao và các phụ tải lớn

ẢNH: H.HY

Chuyên gia kinh tế, TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh - nhìn nhận khi một doanh nghiệp quyết định đầu tư, ngoài mặt bằng và giao thông, họ cần nguồn điện ổn định, lưới truyền tải đủ khả năng đáp ứng và khả năng mở rộng nguồn trong 10 - 20 năm tới. Như vậy, đầu tư công vào hạ tầng không chỉ tạo ra một công trình. Mục tiêu rộng hơn là tạo điều kiện để các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và các dự án đầu tư mới hình thành quanh công trình đó.

Mở rộng năng lực mới

Trong nhiều năm, đầu tư công được nhìn nhận ở vai trò bơm vốn vào nền kinh tế, tạo việc làm, kích thích tổng cầu và hỗ trợ tăng trưởng . Vì vậy, kế hoạch vốn, tiến độ giải ngân và số dự án hoàn thành là những thước đo quan trọng. Tuy nhiên, khi quy mô đầu tư công ngày càng lớn và yêu cầu tăng trưởng cao hơn, hiệu quả của nguồn vốn này cần được nhìn rộng hơn. Vấn đề không còn đơn thuần là giải ngân bao nhiêu, mà là một đồng vốn công tạo ra bao nhiêu năng lực sản xuất mới, bao nhiêu giá trị gia tăng và kích hoạt thêm bao nhiêu nguồn lực của khu vực tư nhân.

TS Võ Trí Thành đánh giá trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đầu tư công đang tạo hiệu ứng "crowding-in", tức lôi kéo đầu tư tư nhân. Theo ông, nếu trước đây Nhà nước chủ yếu được nhìn nhận là chủ thể trực tiếp bỏ vốn xây dựng hạ tầng, thì vai trò của vốn công trong giai đoạn mới là kích hoạt những dòng vốn lớn hơn từ xã hội. "Khi một tuyến cao tốc, một cầu lớn hay một cụm hạ tầng chiến lược được hoàn thành, sẽ mở ra không gian phát triển mới. Điều mà bạn dễ thấy rõ nhất là giá trị đất đai tăng lên, khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ hình thành, dòng vốn tư nhân tự nhiên được kéo theo. Hay một tuyến metro chẳng hạn, nếu chỉ được nhìn như một dự án giao thông thì hiệu quả sẽ khác với việc xem đó là trục phát triển đô thị. Xung quanh nhà ga có thể hình thành trung tâm thương mại, văn phòng, nhà ở, dịch vụ do tư nhân đầu tư. Đây có sự lan tỏa rất mạnh", chuyên gia Võ Trí Thành nói và nhấn mạnh từ vai trò dẫn dắt, đầu tư công còn có vai trò kích hoạt, mở rộng không gian phát triển và tạo cơ hội cho khu vực tư nhân tham gia.

Khi hạ tầng công được đầu tư đồng bộ, không gian phát triển mới có thể thu hút thêm vốn tư nhân và các hoạt động kinh tế

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Ở góc độ doanh nghiệp , ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP.HCM, đồng thời là Phó chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) - cho rằng cần thay đổi cách đo hiệu quả đầu tư công. Không chỉ hỏi công trình giải ngân bao nhiêu, hoàn thành khi nào, mà phải hỏi mỗi đồng vốn công tạo ra bao nhiêu đồng vốn tư và bao nhiêu giá trị kinh tế mới. Chẳng hạn, với một tuyến metro, sân bay hay cảng biển, ngay từ khi quyết định đầu tư cần tính đồng thời hạ tầng, quỹ đất, không gian kinh tế và mô hình huy động vốn tư nhân. Ông đề xuất có thể hình thành khái niệm "hệ số kích hoạt vốn tư nhân", trong đó bên cạnh tổng mức đầu tư và tiến độ, các dự án có khả năng tạo giá trị thương mại lớn có thể xác định mục tiêu về lượng vốn tư nhân dự kiến được kích hoạt.

"Tỷ lệ 1 đồng vốn công kích hoạt 3 - 5 đồng vốn tư nhưng không nên coi là một hệ số cứng, mà điều đó hoàn toàn có thể trở thành một mục tiêu quản trị đối với những dự án có khả năng tạo giá trị thương mại lớn. Như vậy, Nhà nước không cần làm tất cả. Vốn công làm phần mở đường, còn phần tạo giá trị phải huy động sức mạnh của thị trường", ông Đinh Hồng Kỳ nêu quan điểm.

Dành cho bạn

  • Các tập đoàn lớn tiếp tục rót hàng tỉ USD vào Việt Nam
  • Tin quốc tế sáng 15.10: Nhiều diễn biến mới về Nga - Ukraine và Trung Đông
  • Đan Trường lên tiếng về diện mạo khác lạ ở tuổi 50

Kiến tạo giá trị

Nếu trong giai đoạn trước, tài sản hữu hình như đường sá, cầu cảng, sân bay, nhà máy, hệ thống điện, trường học, bệnh viện... là những đầu tư công tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng , thì sang kỷ nguyên mới, năng lực công nghệ, dữ liệu, AI, R&D, nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành một phần của năng lực sản xuất quốc gia. Nói cách khác, đầu tư công không chỉ tạo thêm tài sản mà phải tạo khả năng sử dụng những tài sản đó để tạo ra giá trị cao hơn.

Đầu tư công ngày càng hướng tới việc hình thành hạ tầng cho kinh tế số, nghiên cứu và phát triển...

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; kinh phí dành cho R&D đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm trên 60%; đồng thời đặt mục tiêu năng suất nhân tố tổng hợp đóng góp trên 55% vào tăng trưởng . Các chuyên gia cho rằng những mục tiêu này chứng tỏ hạ tầng của tăng trưởng không chỉ nằm trên những tuyến đường, cây cầu hay nhà ga, mà còn nằm trong phòng thí nghiệm, trung tâm dữ liệu, trường đại học, đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ.

Theo ông Đinh Hồng Kỳ, điểm khác biệt lớn của đầu tư công trong giai đoạn mới là phải chuyển từ tư duy làm công trình sang tư duy tạo ra năng lực phát triển. Hiệu quả của đầu tư công cần được nhìn theo vòng đời của tài sản và tác động đối với nền kinh tế, thay vì chỉ nhìn vào thời điểm công trình được nghiệm thu. "Không gian phát triển mới không chỉ là không gian địa lý, mà quan trọng hơn là không gian kinh tế và không gian tri thức mới. Một sân bay mới chỉ thực sự tạo ra động lực tăng trưởng nếu xung quanh nó hình thành logistics, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và đổi mới sáng tạo. Một tuyến metro không chỉ vận chuyển hành khách mà phải tái cấu trúc đô thị và tạo ra những trung tâm kinh tế mới", ông Đinh Hồng Kỳ chia sẻ.

Phân tích rõ hơn, ông nói thêm mỗi đại công trình có thể tạo ra 3 lớp giá trị. Lớp thứ nhất là hạ tầng kết nối. Lớp thứ hai là doanh nghiệp , đô thị và chuỗi giá trị hình thành quanh hạ tầng. Lớp thứ ba là công nghệ, nghiên cứu phát triển, dữ liệu và nguồn nhân lực. Nếu chỉ tạo được lớp thứ nhất thì đó là một công trình; nếu tạo được cả ba lớp thì công trình có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới. Điều này càng đáng chú ý khi Nghị quyết 57 đặt mục tiêu chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm hơn 60%. 

Ông Đinh Hồng Kỳ nhấn mạnh cần chuyển từ tư duy "đầu tư công trình" sang "đầu tư hệ sinh thái". Mỗi đại dự án quốc gia cần đặt thêm những câu hỏi, rằng dự án kích hoạt bao nhiêu vốn tư nhân, hình thành chuỗi giá trị mới nào và doanh nghiệp Việt Nam làm chủ thêm được công nghệ hay năng lực gì sau dự án . Lúc đó, khu vực tư nhân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành đối tác cùng Nhà nước kiến tạo phát triển. Vì vậy, đại công trình quốc gia cũng cần trở thành "đơn hàng" phát triển năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam, thay vì chỉ là thị trường để mua thiết bị, công nghệ và dịch vụ. "Vốn công mở đường, thể chế mở khóa, vốn tư tạo giá trị, công nghệ Việt Nam tạo năng lực dài hạn", ông Đinh Hồng Kỳ nêu quan điểm.

Chuyên gia Võ Trí Thành cũng nhấn mạnh đầu tư cho giai đoạn phát triển mới không thể chỉ tập trung vào hạ tầng vật chất mà phải đồng thời phát triển hạ tầng số, dữ liệu, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây không phải là sự thay thế hạ tầng cứng bằng hạ tầng mềm, mà là yêu cầu 2 loại hạ tầng phải được phát triển cùng nhau. Muốn hàng hóa di chuyển nhanh, ngoài đường sá và cảng biển còn cần dữ liệu để điều hành chuỗi cung ứng. Cảng biển muốn kết nối sâu hơn với hệ thống cảng thế giới cũng cần số hóa. Doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường và tối ưu sản xuất ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và AI. Vì vậy, đầu tư một phòng thí nghiệm sẽ không tạo nhiều giá trị nếu nghiên cứu không có khả năng ứng dụng; đầu tư hạ tầng số cũng không tạo ra nhiều giá trị nếu dữ liệu không được kết nối và khai thác; đào tạo nhân lực cũng phải gắn với nhu cầu của những ngành công nghệ mới.

Thế nên, trong kỷ nguyên mới của đất nước, thay đổi lớn nhất của đầu tư công không nằm ở việc Nhà nước chi nhiều hơn hay ít hơn, mà ở cách một đồng vốn công được chuyển hóa thành năng lực tăng trưởng . Tuy vậy, ông Thành lưu ý cùng với việc đẩy nhanh các dự án hạ tầng có tính lan tỏa cao, Việt Nam vẫn cần duy trì ổn định vĩ mô, cải thiện năng lực hấp thụ vốn, cải cách thể chế và tăng cường kết nối vùng để tận dụng hiệu quả nguồn lực từ các đại công trình.

Với những công trình hạ tầng được đầu tư đồng bộ, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở bản thân công trình giao thông mà còn ở không gian kinh tế mới được hình thành xung quanh. Đầu tư công vào hạ tầng giao thông có thể tạo ra giá trị vượt ra ngoài phạm vi của công trình, khi kết nối giao thông được chuyển hóa thành dòng khách, hoạt động thương mại, dịch vụ và nguồn thu mới.

TS Nguyễn Thị Hồng Trang, Trường ĐH Sài Gòn

Một tuyến đường phải tạo ra kết nối mới; một sân bay phải mở ra thị trường mới; một hệ thống điện phải tạo điều kiện cho các ngành sản xuất mới; một trung tâm nghiên cứu phải tạo ra công nghệ và nhân lực mới. Khi đó, giải ngân không còn là điểm cuối của đầu tư công. Công trình hoàn thành cũng không phải điểm kết thúc. Thước đo quan trọng hơn là sau khi vốn công được đầu tư, nền kinh tế có thêm năng lực sản xuất nào, doanh nghiệp có thêm cơ hội nào và những dòng vốn mới nào được hình thành.

TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!