Nhiều áp lực đối với điều hành chính sách tiền tệ
Những tháng đầu năm 2026, bối cảnh kinh tế và tài chính thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Căng thẳng địa chính trị, đặc biệt là xung đột quân sự leo thang tại Trung Đông, đã tạo sức ép lớn lên thị trường hàng hóa và tài chính quốc tế. Giá dầu Brent duy trì xu hướng tăng, kéo theo nguy cơ lạm phát quay trở lại tại nhiều nền kinh tế lớn. Trước diễn biến này, các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới như Fed, ECB hay BOE đều duy trì chính sách thận trọng và giữ nguyên lãi suất trong các phiên họp đầu năm. Một số ngân hàng trung ương khác như Úc, Ai Len hay Philippines thậm chí đã tăng lãi suất trong 4 tháng đầu năm 2026.
Trong khi đó, thị trường cũng dự báo khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tăng lãi suất trong tháng 6 nhằm kiểm soát lạm phát. Đồng USD tăng mạnh trở lại trong bối cảnh nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, tạo sức ép lên tỷ giá, lãi suất và thị trường tiền tệ trong nước. Theo đánh giá, rủi ro lạm phát chi phí đẩy từ bên ngoài đang tạo ra những thách thức không nhỏ đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn.
Ở trong nước, để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chính phủ và NHNN tiếp tục kiên định mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp đang đối mặt với nhiều áp lực khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Số liệu thống kê cho thấy, dư nợ tín dụng hiện đã vượt 19 triệu tỷ đồng trong khi huy động vốn chỉ ở mức gần 18 triệu tỷ đồng. Điều này khiến nhiều ngân hàng thương mại gặp áp lực thanh khoản cục bộ và phải tăng lãi suất huy động để hút dòng tiền. Có thời điểm, lãi suất thực tế đối với các khoản tiền gửi lớn hoặc kỳ hạn dài được đẩy lên tới 8-9%/năm.
Nhiều áp lực đối với việc điều hành chính sách tiền tệ
Các chuyên gia phân tích, nếu lãi suất huy động tăng tự do, chi phí vốn đầu vào sẽ tăng theo và kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi lên, gây khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Bên cạnh đó, nếu lãi suất VND giảm quá sâu, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD bị thu hẹp cũng có thể khiến người dân và doanh nghiệp gia tăng nắm giữ USD, tạo áp lực lên tỷ giá và dòng vốn.
Trước bối cảnh đó, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho biết đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ thanh khoản và tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay. Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, lãi suất là một trong những cấu phần quan trọng hình thành chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Việc giảm lãi suất cho vay sẽ góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Chính vì vậy, suốt từ năm 2023 đến nay, NHNN tiếp tục giữ nguyên giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để hỗ trợ nền kinh tế. Từ đầu năm 2026 đến nay, khi lãi suất trên thị trường có dấu hiệu nóng, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ điều hành khác.
Cụ thể, NHNN đã bơm ra một lượng tiền lớn hỗ trợ thanh khoản hệ thống qua thị trường mở, kỳ hạn vay được kéo dài tới 2 tháng thay vì chỉ 1-2 tuần trước đây. Ngoài ra, NHNN cũng triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm bổ sung thêm nguồn hỗ trợ thanh khoản khác bằng VNĐ cho các tổ chức tín dụng. Nhờ các giải pháp này, thanh khoản hệ thống được bảo đảm an toàn tuyệt đối, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hạ nhiệt và lan tỏa xuống thị trường dân cư.
Đồng thời, NHNN liên tục ban hành các văn bản chấn chỉnh hoạt động huy động vốn và yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định mặt bằng lãi suất. Trong đó, tại Công văn số 2342/NHNN-CSTT, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai các giải pháp ổn định lãi suất thị trường, góp phần giữ vững ổn định tiền tệ.
Tiếp đó, ngày 9/4/2026, NHNN tổ chức cuộc họp với các ngân hàng thương mại nhằm thống nhất triển khai chủ trương giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Tại cuộc họp NHNN yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất tiền gửi đối với các giao dịch phát sinh mới ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; đồng thời giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho nền kinh tế.
Sau cuộc họp, nhiều ngân hàng thương mại đã chủ động triển khai việc giảm lãi suất . Trong tháng 4/2026, mặt bằng lãi suất trên thị trường liên tục có xu hướng giảm. Đến ngày 20/4/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,01%/năm, giảm 0,21%/năm so với kỳ trước; lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 8,38%/năm, giảm 0,44%/năm.
Tuy nhiên, những ngày gần đây, xuất hiện hiện tượng cá biệt một số tổ chức tín dụng không thực hiện nghiêm chỉ đạo của NHNN và điều chỉnh tăng lãi suất trở lại. Nguyên nhân được nhận định xuất phát từ việc tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn huy động vốn, khiến một số ngân hàng phải đẩy mạnh huy động để bảo đảm thanh khoản.
Trước diễn biến thị trường, để tăng cường kỷ luật thị trường và triển khai quyết liệt chủ trương giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, NHNN đã có công văn số 3972/NHNN-CSTT ngày 14/5/2026 chỉ đạo các NHNN chi nhánh tại các khu vực (NHNN Khu vực) tổ chức kiểm tra các chi nhánh NHTM trên địa bàn trong việc thực hiện chủ trương, chỉ đạo của Thống đốc NHNN về việc giảm mặt bằng lãi suất. Mới đây nhất, ngày 21/5/2026, NHNN tiếp tục có công văn số 4190/NHNN-CSTT chỉ đạo các NHNN Khu vực tổ chức họp với các chi nhánh NHTM trên địa bàn để yêu cầu, quán triệt các chi nhánh NHTM thực hiện nghiêm chủ trương, chỉ đạo của Thống đốc NHNN tại Thông báo số 117/TB-NHNN ngày 10/4/2026 về việc giảm mặt bằng lãi suất; đồng thời chỉ đạo các NHNN Khu vực tập trung tăng cường tổ chức kiểm tra việc giảm lãi suất của các NHTM, xử lý nghiêm các sai phạm nếu có. Hiện các NHNN khu vực đang tiến hành rà soát các ngân hàng có mặt bằng lãi suất huy động và cho vay cao hơn so với mặt bằng chung để tổ chức kiểm tra chuyên đề. Đồng thời, Thanh tra NHNN khu vực cũng được yêu cầu triển khai các nội dung kiểm tra về lãi suất trong kế hoạch thanh tra năm 2026 nhằm tăng cường giám sát việc thực hiện chủ trương giảm lãi suất trên toàn hệ thống.
Động thái trên của cơ quan điều hành thêm một lần nữa khẳng định quyết tâm trấn áp làn sóng lãi suất đang “âm thầm” tăng tại một số NHTM gần đây và hướng tới ổn định mặt bằng lãi suất thị trường nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Tuy vậy theo các chuyên gia, nhìn nhận khách quan, trong bối cảnh kinh tế, địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, với độ mở nền kinh tế lớn như Việt Nam, NHNN đang đối mặt với bài toán điều hành chính sách tiền tệ vô cùng thách thức.
Tạo thêm dư địa vốn, giảm áp lực thanh khoản ngân hàng
Bên cạnh các biện pháp hành chính và tăng cường kiểm tra thị trường, NHNN cũng đồng thời triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm hỗ trợ thanh khoản và tạo thêm dư địa vốn cho hệ thống ngân hàng. Đáng chú ý, Thông tư 08/2026 có hiệu lực từ ngày 15/5/2026 đã điều chỉnh một số quy định liên quan đến cách tính hệ số an toàn vốn và tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR).
Bên cạnh các biện pháp hành chính và tăng cường kiểm tra thị trường, NHNN cũng triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm hỗ trợ thanh khoản và tạo thêm dư địa vốn cho hệ thống ngân hàng. Đáng chú ý, Thông tư 08/2026 có hiệu lực từ ngày 15/5/2026 đã cho phép các tổ chức tín dụng được tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần tổng tiền gửi khi tính toán tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) thay vì phải loại bỏ hoàn toàn theo lộ trình trước đó.
Theo giới phân tích, Thông tư 08 được xem là động thái hỗ trợ thanh khoản đáng chú ý cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh. Việc cho phép tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần tiền gửi khi tính tỷ lệ LDR giúp các ngân hàng có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng mà không cần đẩy mạnh huy động vốn bằng lãi suất cao như trước, qua đó góp phần giảm áp lực cạnh tranh lãi suất huy động và hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Đánh giá về tác động của chính sách này, MBS cho rằng quy định mới sẽ giúp nhóm ngân hàng quốc doanh gia tăng đáng kể dư địa cho vay, đồng thời giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. SSI Research cũng nhận định nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ hưởng lợi rõ nét hơn nhờ đặc thù nắm giữ phần lớn tiền gửi Kho bạc Nhà nước. Theo SSI Research, tác động ở cấp độ toàn hệ thống không quá lớn, tương đương khoảng 0,6% dư nợ tín dụng, song đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, mức hỗ trợ có thể tương đương khoảng 1,4-2% dư nợ tín dụng.
Theo tính toán của giới phân tích, với mức trần tỷ lệ cho vay trên huy động là 85%, việc bổ sung một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số LDR có thể tạo thêm dư địa cho vay lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, qua đó hỗ trợ cải thiện thanh khoản và thúc đẩy dòng vốn ra nền kinh tế.
Những động thái giải pháp trên cho thấy NHNN đang theo đuổi mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất không chỉ bằng các biện pháp hành chính mà còn kết hợp linh hoạt các công cụ điều hành và hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Trong thời gian tới, NHNN cho biết tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến lãi suất tiền gửi và cho vay của thị trường và của từng TCTD, việc công bố lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của các TCTD để có chính sách, biện pháp kịp thời nhằm yêu cầu TCTD thực hiện nghiêm chỉ đạo giảm mặt bằng lãi suất. Đồng thời NHNN triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống TCTD; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện giảm mặt bằng lãi suất của TCTD theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của các TCTD.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân - Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho rằng câu chuyện lãi suất cần được nhìn nhận theo cơ chế thị trường và đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng. Theo ông Thân, hiện Nhà nước đã có nhiều cơ chế hỗ trợ như Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ đổi mới công nghệ hay Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ này trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn. Theo đó, ông đề xuất cần có giải pháp đồng bộ hơn từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhằm tháo gỡ điều kiện tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tập trung vào câu chuyện giảm lãi suất .
Ngoài ra, nhiều chuyên gia cũng cho rằng để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng ổn định lãi suất bền vững, cần thêm các giải pháp tổng thể nhằm phát triển thị trường vốn Việt Nam. Trong đó, cần tập trung vào việc khơi thông dòng vốn trung và dài hạn, thay vì tập trung vào tín dụng ngân hàng từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Các trọng tâm chiến lược bao gồm: hoàn thiện thể chế, minh bạch hóa thông tin, gia tăng nhà đầu tư tổ chức và nâng hạng thị trường chứng khoán...