Vì vậy, quốc gia nào có nhiều dầu đồng nghĩa với việc sở hữu một tiềm năng quyền lực và sức hút vô hình.
Dù đã được biết tới từ thời cổ đại nhưng mãi đến năm 1859 - thời điểm doanh nhân Mỹ Edwin Drake trở thành người đầu tiên khoan thành công một mạch dầu sâu, dầu mỏ mới chính thức tạo ra một cơn sốt toàn cầu, được ứng dụng rộng rãi vào các lĩnh vực khác nhau, trở thành một trong những huyết mạch của nền kinh tế.
Cục diện khác nhau
Dầu mỏ thường được ví như "vàng đen " của nền công nghiệp. Vì vậy, quốc gia nào có nhiều dầu đồng nghĩa với việc sở hữu một tiềm năng quyền lực và sức hút vô hình. Dầu mang lại sự thịnh vượng nhưng cũng thường xuyên đi kèm với khủng hoảng.
Theo tạp chí chuyên ngành Oil & Gas Journal, quốc gia có trữ lượng dầu hàng đầu thế giới đã được xác nhận là Venezuela với 303,2 tỉ thùng. Theo sau là Ả Rập Saudi với 267,2 tỉ thùng, Iran 208,6 tỉ thùng, Canada 163 tỉ thùng, Iraq 145 tỉ thùng, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất 113 tỉ thùng, Kuwait 101,5 tỉ thùng, Nga 80 tỉ thùng, Mỹ 74,4 tỉ thùng, Libya 48,4 tỉ thùng...

Tàu chở dầu Evana neo đậu tại cảng El Palito ở TP Puerto Cabello, bang Carabobo - Venezuela ngày 21-12-2025. Ảnh: AP
Những kho "vàng đen " khổng lồ này mang lại cho các nước sở hữu cục diện rất khác nhau. Trong khi Venezuela đang chìm trong khủng hoảng, Ả Rập Saudi lại thịnh vượng với chiến lược duy trì tính linh hoạt trong sản lượng thông qua các biện pháp cắt giảm của OPEC+ (liên minh giữa Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC và các nước sản xuất đối tác). Lần lượt đứng thứ 3 và thứ 5 về trữ lượng dầu mỏ, Iran và Iraq đang chịu áp lực do các lệnh trừng phạt quốc tế và xung đột, song các mỏ dầu vẫn giúp họ chống chịu, có được vị thế quan trọng đối với dòng chảy dầu khí trong khu vực - theo trang Gulf News.
Trong khi đó, nếu tính đến phương diện sản xuất dầu mỏ, bảng xếp hạng đã thay đổi. Báo cáo thống kê năng lượng thế giới năm 2022 của Tập đoàn BP (Anh) cho thấy Mỹ mới là quốc gia sản xuất dầu nhiều nhất với sản lượng lên tới 16,6 triệu thùng/ngày vào năm 2021, theo sau là Ả Rập Saudi (11 triệu thùng) và Nga (10,9 triệu thùng). Ba quốc gia này sản xuất đến 43% lượng dầu mỏ phục vụ thế giới, nhiều hơn tổng sản lượng của 10 quốc gia sản xuất dầu xếp ngay sau họ cộng lại.
Chiến lược "thông minh"
Trên thực tế, việc sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn chưa chắc đem lại quyền lực và lợi ích lớn nhất trong lĩnh vực này. Chiến lược sản xuất vượt lên thành yếu tố then chốt và đó cũng là bí quyết định hình quyền lực thị trường dầu nghiêng về phía Mỹ.
Trong vài thập kỷ gần đây, sản lượng dầu mỏ của Mỹ đã trải qua nhiều thăng trầm. Theo báo cáo nêu trên của Tập đoàn BP, từ mức 11,3 triệu thùng/ngày vào năm 1970, sản lượng dầu của Mỹ đã chạm mức thấp lịch sử là 6,8 triệu thùng/ngày vào năm 2008. Tuy nhiên, sau sự phục hồi vào những năm 2010, Mỹ đã vượt qua Ả Rập Saudi, để trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới.

Nhà máy Lọc dầu Chalmette ở bang Louisiana - Mỹ. Ảnh: AP
Tính đến năm 2021, Mỹ vẫn là nước nhập khẩu ròng dầu thô trong khi xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ tinh chế. Chiến lược này được đánh giá là "thông minh", đạt được nhờ công nghệ lọc hóa dầu đỉnh cao: Mua sản phẩm thô với giá thành thấp và bán sản phẩm chất lượng vượt trội, giá thành cao hơn.
Bên cạnh đó, các công ty Mỹ còn đẩy mạnh hợp tác với nhiều quốc gia dồi dào dầu mỏ để khai thác và chia lợi nhuận khủng từ "vàng đen ", bao gồm Venezuela. Ở nước này, Chevron - tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ - đang hoạt động dưới 2 hình thức: Sản xuất riêng và liên doanh với Petróleos de Venezuela (PDVSA). PDVSA là công ty dầu khí quốc doanh thống trị ngành dầu mỏ Venezuela.
Ngoài Mỹ, Nga và Canada cũng là những ví dụ về lượng dầu xuất khẩu ấn tượng, bất chấp trữ lượng hạn chế hơn một số nước. Với các quốc gia vừa có trữ lượng dầu mỏ lớn vừa có chiến lược khai thác phù hợp - như Ả Rập Saudi, dầu mỏ không chỉ đem lại sự giàu có mà còn là nguồn lực để phát triển đất nước trên những phương diện khác.
Trong khi đó, tại Venezuela, sản lượng dầu từng đạt đỉnh với khoảng 3,5 triệu thùng/ngày vào năm 1997 nhưng từ đó đã giảm mạnh xuống còn khoảng 950.000 thùng/ngày hiện nay. Venezuela hiện chỉ xuất khẩu dầu được khoảng 550.000 thùng/ngày - theo dữ liệu do Công ty Tư vấn Lipow Oil Associates (Mỹ) cung cấp.
Sự sụt giảm vừa nêu được cho là do tác động tổng hợp từ nhiều yếu tố: Loại dầu của Venezuela có phần khó khai thác hơn ở hầu hết những nơi khác; việc quản lý bất cập của PDVSA; thiếu đầu tư vào khâu bảo trì - nâng cấp cơ sở hạ tầng; các lệnh trừng phạt kinh tế...
Dầu Venezuela - loại dầu thô nặng, hàm lượng lưu huỳnh cao - được cho là khó khai thác. Dù vậy, đây lại là loại dầu rất được các hãng lọc dầu ở Mỹ ưa chuộng. Với những diễn biến mới đây, tương lai của ngành dầu mỏ ở Venezuela bị các chuyên gia đánh giá là còn bấp bênh.
Sức mạnh của OPEC và OPEC+
Đối với ngành dầu mỏ, OPEC luôn có vị thế thống trị nhờ vào tổng trữ lượng và tổng lượng dầu xuất khẩu "siêu khủng", cho dù một vài thành viên đang gặp nhiều khó khăn và thách thức.
Thành lập năm 1960 với 5 quốc gia là Iraq, Iran, Kuwait, Ả Rập Saudi và Venezuela, OPEC sau này mở rộng thành 13 quốc gia trước khi giảm còn 12 vào năm 2023, với sự rút lui của Angola. Theo OPEC, mục tiêu thành lập ban đầu của tổ chức này là phối hợp và thống nhất những chính sách dầu mỏ giữa các thành viên để bảo đảm giá cả cho nhà sản xuất, nguồn cung cho người tiêu dùng và lợi nhuận cho nhà đầu tư. Song, điều mà thế giới quan tâm nhất ở OPEC là ảnh hưởng của các quyết định chung lên giá dầu thô toàn cầu.
Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) ước tính các nước thành viên OPEC có tổng trữ lượng dầu mỏ vào khoảng gần 1.700 tỉ thùng, sản xuất 28,7 triệu thùng dầu thô mỗi ngày vào năm 2022 - chiếm 38% tổng sản lượng dầu thế giới năm đó. Trong OPEC, vị thế của Ả Rập Saudi là lớn nhất.
Năm 2016, chủ yếu để đối phó với việc giá dầu giảm mạnh do sản lượng dầu đá phiến của Mỹ tăng đáng kể, OPEC đã ký một thỏa thuận với 10 quốc gia sản xuất dầu khác để thành lập liên minh OPEC+. Trong 10 quốc gia này, Nga là thành viên nổi bật, góp phần gia tăng đáng kể sức mạnh của khối.
(Còn tiếp)