Đại bàng’ FDI săn nguồn ‘điện xanh’
Tại Tọa đàm “Bất động sản công nghiệp phía Nam: Đón làn sóng FDI công nghệ cao và kiến tạo hệ sinh thái sản xuất mới” hôm 25/9, ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC ), chia sẻ nhiều câu chuyện về cách các doanh nghiệp FDI đang tiếp cận nguồn điện xanh tại Việt Nam.
Theo ông Hoan, với các doanh nghiệp sản xuất toàn cầu, yêu cầu về điện hiện không dừng ở việc đủ điện và cung cấp ổn định. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong quá trình sản xuất ngày càng trở thành một tiêu chí được các đối tác quốc tế quan tâm.
Tại khu vực EVNSPC quản lý, nhu cầu này đã thể hiện khá rõ qua nhiều mô hình sử dụng điện xanh.
Theo hình thức mua bán điện trực tiếp (DPPA) qua lưới điện quốc gia, Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên đã ký hợp đồng mua điện từ Nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2, với sản lượng hơn 5.314 MWh.
Trong khi đó, với hình thức DPPA qua lưới điện kết nối riêng, đã có 8 trường hợp tham gia. Tổng công suất điện mặt trời mái nhà của các trường hợp này đạt 25,3 MWp, đi kèm 4,3 MWh hệ thống lưu trữ. Trong số các khách hàng có Suntory PepsiCo, Coca-Cola, Dongjin Textile Vina, Grand Gain…Ngày 17/9, thêm 2 doanh nghiệp đã ký biên bản ghi nhớ tham gia cơ chế này tại Vĩnh Long.
Ông Hoan cho biết doanh nghiệp tại Việt Nam hiện có hai hướng chính để tiếp cận nguồn điện tái tạo. Một là lắp đặt điện mặt trời mái nhà để tự sản xuất, tự tiêu thụ. Hai là tham gia cơ chế DPPA với các đơn vị phát điện từ gió và mặt trời.
Điện mặt trời mái nhà tại các nhà xưởng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp cũng đang phát triển mạnh. Trên địa bàn EVNSPC quản lý hiện có 933 đơn vị lắp đặt, với tổng công suất 845 MWp.
Dư địa phát triển còn được mở rộng khi Nghị định 243 tháo gỡ một số vướng mắc trong thực tiễn. Theo đó, doanh nghiệp được bán điện dư lên lưới tối đa 50% sản lượng phát. Đến hết năm 2030, doanh nghiệp có thể thỏa thuận tỷ lệ cao hơn nếu lưới điện khu vực đủ khả năng tiếp nhận.
FDI công nghệ cao kéo theo bài toán điện mới
Theo Phó Tổng giám đốc EVNSPC , điện xanh là một yêu cầu mới, nhưng trước đó, các khu công nghiệp vẫn phải giải được bài toán căn bản là đủ điện, ổn định và có chất lượng cao.
EVNSPC hiện quản lý phân phối điện trên địa bàn 8 tỉnh, thành phố phía Nam, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn. Nhóm khách hàng công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 60 - 65% tổng sản lượng điện thương phẩm, trong khi phụ tải tăng bình quân 7 - 10% mỗi năm.
Tại Đồng Nai, địa bàn có hơn 30 khu công nghiệp đang vận hành, hiện có hơn 45 trạm biến áp 110kV với tổng dung lượng trên 4.380 MVA. Đây là hệ thống cung cấp điện cho phần lớn phụ tải công nghiệp nặng và các tổ hợp sản xuất quy mô lớn.
Tại Tây Ninh, hơn 42 trạm biến áp 110kV có tổng dung lượng khoảng 4.317 MVA đang cấp điện cho các tổ hợp như Phước Đông, Trảng Bàng, Thành Thành Công, trong bối cảnh sản xuất tăng tốc cùng làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, ông Hoan cho biết khả năng dự phòng theo tiêu chí N-1 hiện mới được bảo đảm vững chắc trên các trục đường dây 110kV mạch kép và lưới trung thế mạch vòng. Ở cấp trạm biến áp 110kV, vẫn còn những trạm chỉ vận hành một máy biến áp; một số trạm lân cận chưa có đủ dung lượng dự phòng để nhận toàn bộ tải trong giờ cao điểm. Đây là thách thức đáng lưu ý khi các dự án FDI công nghệ cao thường tập trung vào một số khu công nghiệp, khiến phụ tải tăng nhanh và có thể gây quá tải cục bộ.
Không chỉ cần nhiều điện hơn, các nhà máy công nghệ cao còn sử dụng nhiều bộ nguồn điện tử, thiết bị điều khiển tự động…, do đó yêu cầu về chất lượng điện năng cũng cao hơn.
Theo ông Hoan, vì vậy, khi lựa chọn vị trí phát triển khu công nghiệp công nghệ cao, cần tính đến khả năng đáp ứng của lưới điện. Khu công nghiệp nên nằm ở nơi lưới điện đã hoặc đang được đầu tư đáp ứng tiêu chí N-1, hoặc nằm gần khu vực đã có trong quy hoạch phát triển lưới điện.
Hạ tầng điện phải đi trước dòng vốn
Để đón đầu nhu cầu tăng thêm, EVNSPC đã làm việc với các chủ đầu tư có kế hoạch sử dụng điện năm 2027 để đầu tư các dự án cấp điện. Dù vậy, đưa điện đến khu công nghiệp không phải lúc nào cũng theo kịp tốc độ thu hút đầu tư. Theo ông Hoan, giải phóng mặt bằng các tuyến 110kV đi qua đất thổ cư, vườn cao su hoặc khu dân cư giáp ranh thường kéo dài hơn dự kiến. Thủ tục thỏa thuận vị trí trạm, hướng tuyến cũng phải qua nhiều cấp lấy ý kiến.
Từ đó phát sinh tình trạng “lệch pha” giữa tiến độ bàn giao mặt bằng, thu hút nhà đầu tư thứ cấp và tiến độ xây dựng lưới điện. Có nơi lưới điện hoàn thành nhưng phải chờ phụ tải; ngược lại, có nơi phụ tải tăng nhanh nhưng đường dây ngoài hàng rào chưa được hoàn thiện.
Trước bài toán này, lãnh đạo EVNSPC cho biết đã xác định phương châm dài hạn là “Hạ tầng điện đi trước một bước”. Tổng công ty ưu tiên bố trí vốn, đầu tư đồng bộ các trạm biến áp 110kV ngay trong hoặc liền kề ranh giới khu công nghiệp trước khi các nhà máy thứ cấp đi vào vận hành. Mục tiêu là 100% trạm 110kV cấp điện cho khu công nghiệp vận hành không người trực, đồng thời tích hợp hệ thống SCADA tự động về Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Nam.
Để hạn chế tình trạng “lệch pha”, EVNSPC và các công ty điện lực thành viên sẽ làm việc với chủ đầu tư ngay từ giai đoạn phê duyệt quy hoạch.
Theo đó, ngành điện trực tiếp đầu tư trạm 110kV và đường dây đấu nối, cấp điện cho khu công nghiệp ở cấp điện áp 22kV. Ban Quản lý khu công nghiệp định kỳ cung cấp kế hoạch giao đất, tiến độ cấp phép cho nhà đầu tư thứ cấp và dự báo công suất. Ngành điện cập nhật tiến độ các dự án nguồn, lưới để hai bên có thể khớp các mốc kỹ thuật.
Cùng với đó, cơ chế “một cửa” giữa Ban Quản lý, chủ đầu tư hạ tầng và ngành điện sẽ được áp dụng khi làm việc với các sở, ngành và UBND địa phương. Mục tiêu là rút ngắn thời gian thỏa thuận hướng tuyến, đưa công trình vào kế hoạch sử dụng đất và giải quyết dứt điểm công tác đền bù.
"Với dòng vốn FDI công nghệ cao, bài toán của hạ tầng điện vì thế không chỉ là có đủ công suất, mà còn phải bảo đảm độ tin cậy, chất lượng điện và khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo của các nhà sản xuất toàn cầu", lãnh đạo EVN Miền Nam nhấn mạnh.