Từ ngày 1.1.2026, các quy định của Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) của Mỹ chính thức có hiệu lực đối với hàng thủy sản nhập khẩu. Theo công bố, VN nằm trong nhóm 34 quốc gia được xếp hạng tương đương một phần, đồng nghĩa với việc hoạt động xuất khẩu vẫn được duy trì, nhưng phải tuân thủ các điều kiện giám sát nghiêm ngặt và yêu cầu về Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA - Certification of Admissibility). Cũng từ thời điểm ngày 1.1.2026, các mặt hàng thủy sản của VN nằm trong danh sách 12 nghề cá bị cấm do liên quan đến MMPA đã không thể cập cảng nước Mỹ như thường lệ mà phải cung cấp COA - loại giấy chứng nhận xác nhận rằng lô hàng không được khai thác từ các nghề cá bị cấm theo quy định của MMPA.

Nghề cá VN cần phải cải tổ theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu thị trường
Ảnh: C.T.V
Cơ quan Quản lý khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ (NOAA) lý giải: COA không phải là giấy phép xuất khẩu, mà là công cụ kiểm soát nhập khẩu theo MMPA, được sử dụng để chứng minh với Hải quan Mỹ rằng lô hàng là hợp pháp. COA bắt buộc phải có 2 chữ ký của cơ quan có thẩm quyền thuộc Chính phủ (tại VN, thẩm quyền cấp COA được giao cho cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh), trường hợp có chuyển đổi xuất xứ do chế biến tại nước trung gian, quốc gia xuất khẩu cuối cùng có thể ký COA trên cơ sở hồ sơ hợp lệ từ nước khai thác và chữ ký còn lại thuộc về nhà nhập khẩu tại Mỹ. COA bắt buộc phải được tải lên hệ thống Customs Document Image System (CDIS) của Hải quan Mỹ.
NOAA khẳng định không phải toàn bộ thủy sản VN đều bị cấm hoặc bị siết ngay khi đạo luật nói trên được áp dụng đầy đủ. Tuy nhiên, việc một lô hàng có phải đáp ứng các yêu cầu hay không phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố là quốc gia xuất xứ và mã HS (mã phân loại hàng hóa) được khai báo tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu. Trên cơ sở đó, một số sản phẩm dù không thuộc các nghề cá bị từ chối tương đương theo MMPA vẫn có thể bị yêu cầu bổ sung hồ sơ nếu sử dụng mã HS nằm trong nhóm có rủi ro cao liên quan đến tương tác với động vật có vú biển như cá heo, cá voi, hải cẩu.
Ngay trước khi quy định khai báo COA có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp trong nước cho biết họ đã nhập khẩu nguyên liệu về để chế biến, và các lô hàng này chưa làm thủ tục để có giấy COA, vì vậy rất cần giải pháp linh hoạt để tháo gỡ. Tuy nhiên, đề xuất này ngay lập tức đã bị NOAA bác bỏ, hàng nhập khẩu vào Mỹ sau ngày 1.1.2026 vẫn phải tuân thủ theo quy định mới.
"Quy định của Mỹ áp dụng theo thời điểm nhập khẩu vào Mỹ, không phụ thuộc vào thời điểm khai thác hay thời điểm nhập kho tại VN. Nếu lô hàng cập cảng Mỹ vào hoặc sau ngày 1.1.2026, bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của MMPA, bao gồm COA (nếu thuộc diện áp dụng), không có ngoại lệ đối với hàng tồn kho hoặc hàng đang trên đường vận chuyển nếu cập cảng sau thời điểm trên", đại diện NOAA khẳng định. Đối với trường hợp nguyên liệu tồn kho trước ngày 1.1.2026 mà rất nhiều doanh nghiệp VN đang gặp phải, NOAA cho biết: Nếu lô hàng nhập khẩu vào Mỹ sau ngày 1.1.2026 và có mã hàng trùng với mã của sản phẩm bị cấm hoặc bị hạn chế thì bắt buộc phải có COA, bất kể nguyên liệu được khai thác hay nhập kho từ thời điểm nào.
Trao đổi với PV Thanh Niên, một lãnh đạo doanh nghiệp thủy sản tại TP.HCM cho biết các quy định mới của NOAA chắc chắn sẽ tác động lớn và làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu thủy sản sang Mỹ. Ngay cả các quy định mới ban hành liên quan đến việc cấp COA tại VN cũng đang gặp nhiều vấn đề phát sinh và phải mất một thời gian để các quy trình đi vào thói quen. "Về các nguyên liệu tồn kho đã nhập về nhưng chưa có giấy COA, các doanh nghiệp chắc chắn sẽ tìm ra cách để giải quyết, ví dụ như tìm kiếm khách hàng mới", vị giám đốc này cho biết.
Bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), thừa nhận: Các chính sách thuế quan, thương mại và rào cản kỹ thuật của Mỹ có thể tiếp tục khiến các nhà xuất khẩu trên thế giới thận trọng và tính đến phương án chuyển dịch thị trường. Việc chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm là chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và toàn ngành, nhưng cần thêm thời gian để điều chỉnh và thích ứng dần, thay vì có thể tạo ra sự thay đổi bền vững chỉ trong một hoặc hai năm. Xu hướng này đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn tại các thị trường khác như EU, Trung Quốc, ASEAN và Trung Đông.
Theo đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NN-MT), tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản VN sang thị trường Mỹ đạt 1,8 tỉ USD/năm. Tính riêng các sản phẩm khai thác được liệt kê từ 12 nghề bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm của NOAA ước đạt gần 512 triệu USD. Tuy nhiên, không phải tất cả sản phẩm thủy sản của VN đều bị cấm xuất khẩu vào Mỹ. Ngay cả đối với 12 loài trong danh mục cảnh báo, lệnh cấm chỉ áp dụng khi hội đủ 4 điều kiện: tên loài, ngư cụ (ví dụ nghề lưới rê), khu vực khai thác và quốc gia khai thác trùng với danh mục cảnh báo do NOAA đưa ra. Doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị sẵn COA để nhà nhập khẩu đưa lên hệ thống, đây là cách duy nhất để thông quan nhanh chóng vì Mỹ không áp dụng các trường hợp ngoại lệ. Đối với các lô nguyên liệu đã thu mua từ trước khi quy định cấp COA vào Mỹ có hiệu lực, doanh nghiệp có thể sử dụng hóa đơn tài chính hoặc bảng kê hàng hóa (trong trường hợp mua trực tiếp từ ngư dân trong nước) để chứng minh thời điểm khai thác, phục vụ việc cấp giấy chứng nhận chuyển tiếp.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết trong năm 2026, Cục sẽ tiếp tục phối hợp cùng các đơn vị liên quan thực hiện các giải pháp để chứng minh với phía Mỹ rằng những nghề cá mà nước này không công nhận tương đương sẽ tương đương bằng chỉ số thực tế và số liệu khoa học. Cùng với đó, về thực hiện điều tra nguồn lợi thú biển, việc này VN đã làm nhưng chưa đồng bộ, chưa đầy đủ thì tới đây sẽ làm bài bản. Việc tuân thủ MMPA không chỉ để đáp ứng rào cản kỹ thuật của thị trường, mà còn là cơ hội để VN tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi từ nghề cá truyền thống sang nghề cá hiện đại, có trách nhiệm.
NOAA cho biết các sản phẩm có nguồn gốc từ nghề ghẹ của VN không cần COA trong giai đoạn xem xét lại. Tuy nhiên, cần lưu ý là NOAA sẽ đưa ra quyết định mới về việc có cấp kết luận về tính tương đương cho các nghề cá này hay không trong vòng (tối đa) 180 ngày kể từ ngày 12.11.2025. Hiện tại, ghẹ nhập khẩu từ VN, Indonesia, Philippines và Sri Lanka chưa bị áp dụng các hạn chế nhập khẩu cho đến khi các quyết định mới về kết luận tương đương được ban hành. Tuy nhiên, các yêu cầu COA đối với ghẹ từ VN có thể thay đổi trước khi kết thúc giai đoạn 180 ngày.
Hiện nay VASEP và các cơ quan chức năng đang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ xin đánh giá tương đương lại. NOAA cũng hướng dẫn VN có thể được phép điều chỉnh và phân loại lại nghề cá để phản ánh đúng thực tế quản lý (ví dụ: tách theo loài và ngư cụ). Tuy nhiên, việc tách nghề sẽ dẫn đến NOAA phải đánh giá lại từng nghề mới, mỗi nghề phải có chương trình giám sát, dữ liệu đánh bắt và biện pháp giảm thiểu riêng.