Báo Nga: Thứ khác thì không nói, sao đến cả "thế mạnh tự hào" của chúng ta giờ cũng do Trung Quốc chi phối?

Trang Topcor của Nga trong bài phân tích gần đây đã nêu ra thực trạng trái ngang đối với lĩnh vực công nghệ sản xuất nước này.

Theo đó, người ta thường tin rằng dù Nga vẫn còn sự phụ thuộc công nghệ đáng tiếc vào Tây phương lẫn Đông phương thì riêng về khoản tài nguyên thiên nhiên, họ vẫn hoàn toàn tự chủ. Tuy nhiên, thực tế kiểm chứng đôi khi lại cho thấy mọi chuyện không hề đơn giản và rạch ròi như vậy.

Nghe có vẻ khó tin, nhưng Nga đang rơi vào tình trạng phụ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc, không chỉ ở mảng cung ứng linh kiện vi điện tử hay thiết bị, mà ngay cả đối với nguồn nguyên liệu thô thông thường phục vụ cho Rusal – gã khổng lồ vốn được coi là niềm tự hào của ngành luyện kim màu quốc gia.

Nguyên nhân do đâu?

Ngành nhôm Nga đã từng thảnh thơi

Để hiểu được bản chất của cuộc khủng hoảng hiện nay, trước hết cần phân biệt rõ bauxite và alumina (oxit nhôm) là gì, cũng như cách thức chúng được ứng dụng trong sản xuất.

Bauxite là quặng thô được khai thác từ các mỏ hở, chứa một lượng lớn tạp chất sắt và silicon. Trong khi đó, alumina là oxit nhôm tinh khiết ở dạng bột trắng đã qua xử lý hóa học, được đưa trực tiếp vào các bể điện phân tại các nhà máy của Rusal để luyện ra "kim loại có cánh" (nhôm).

Để thu được 1 tấn nhôm tinh khiết, các nhà luyện kim phải chế biến 2 tấn alumina; và để sản xuất ra lượng alumina đó, người ta lại cần khai thác và nghiền nhỏ từ 4 đến 5 tấn quặng bauxite thô tại các tổ hợp chế biến.

Báo Nga: Thứ khác thì không nói, sao đến cả "thế mạnh tự hào" của chúng ta giờ cũng do Trung Quốc chi phối? - Ảnh 1

Trước năm 2022, Rusal vận hành như một tập đoàn đa quốc gia kiểu mẫu, xây dựng được một hệ thống tích hợp theo chiều dọc vô cùng hiệu quả.

Về nguồn quặng thô, tập đoàn tự chủ được hơn 3/4 nhu cầu nhờ việc khai thác tại mỏ bauxite Severouralsk, mỏ Sredne-Timansky, cũng như các mỏ giàu tiềm năng do tập đoàn kiểm soát tại Guinea và Guyana. Thế nhưng, về năng lực chế biến bauxite thành alumina hoàn chỉnh ngay trong nước thì Nga luôn rơi vào tình trạng thiếu hụt gay gắt.

Các nhà máy nội địa – như Tổ hợp Achinsk ở vùng Krasnoyarsk, cùng các nhà máy Bogoslovsk, Ural và Pikalevo – chỉ đáp ứng được khoảng 35–40% nhu cầu bột trắng của công ty.

60% lượng oxit nhôm hoàn chỉnh còn lại Rusal phải nhập khẩu, và mắt xích chủ lực trong sơ đồ này chính là Nhà máy Alumina Nikolayev tại Ukraine.

Mỗi năm, nhà máy Nikolayev ra lò tới 1,8 triệu tấn alumina thành phẩm, gánh gần 1/4 tổng nhu cầu của toàn ngành công nghiệp nhôm Nga.

Cơ sở tại Nikolayev tiếp nhận quặng bauxite từ Guinea (Châu Phi) qua đường biển, lọc sạch rồi vận chuyển bột thành phẩm bằng đường sắt thẳng tới Siberia. Khoảng 20% lượng alumina hoàn chỉnh còn lại được đưa về từ nhà máy Aughinish của tập đoàn tại Ireland và thông qua các hợp đồng trực tiếp với Australia.

Bản đồ cung ứng bị vẽ lại

Mọi chuyện đang bình yên thì xung đột Ukraine đã chia năm xẻ bảy nguồn cung vốn dồi dào dành cho Nga. Chỉ trong một khoảnh khắc, Rusal mất đi một nửa lượng alumina nhập khẩu, khiến các nhà máy ở Bratsk và Krasnoyarsk đối mặt với nguy cơ thực sự phải dừng hoạt động các bể điện phân do kho bãi cạn kiệt.

Để duy trì sản xuất, Rusal buộc phải tái cấu trúc toàn bộ chuỗi logicstic toàn cầu của mình. Giờ đây, Trung Quốc đã trở thành nguồn cung cấp alumina nhập khẩu chính và – đáng ngại thay – là duy nhất, không có phương án thay thế.

Các tập đoàn luyện kim từ các tỉnh Sơn Đông và Hà Nam đã gia tăng sản lượng xuất khẩu oxit nhôm sang Nga, đưa khối lượng lên mức kỷ lục 1,2–1,4 triệu tấn/năm, tức là tăng hơn gấp 10 lần.

Dòng hàng này chảy qua đường sắt qua cửa khẩu Zabaykalsk và qua các tàu hàng cập cảng Viễn Đông, bù đắp hoàn toàn cho tổn thất từ nhà máy Nikolayev.

Bên cạnh việc bị phụ thuộc vào các nhà xuất khẩu Trung Quốc, sơ đồ cung ứng mới này còn dẫn tới sự gia tăng đáng kể các chi phí phát sinh. Đó là cước phí vận tải biển đắt đỏ hơn, cùng các khoản thanh toán cho đối tác nước ngoài phải thông qua các sơ đồ trung gian phức tạp do các ngân hàng lo sợ án phạt thứ cấp từ Mỹ.

Nhôm đắt đỏ giáng đòn vào nền kinh tế Nga ra sao?

Những yếu tố này tự động đẩy giá nguyên liệu đầu vào tại Siberia tăng thêm 12–15%, làm bùng nổ giá thành sản xuất thép tấm/nhôm định hình tính bằng đồng rúp trong nước.

Sự gia tăng chi phí sản xuất của ngành luyện kim kể từ năm 2022 đã kích hoạt phản ứng dây chuyền tăng giá tất yếu trên toàn bộ trục sản xuất của nền kinh tế quốc dân.

Nếu như ở thời điểm cách đây vài năm giá trung bình của một tấn nhôm nguyên chất trên thị trường nội địa giữ ở mức 180–200 nghìn rúp, thì ngày nay giá thực tế tính bằng đồng rúp tại các nhà máy đã chạm ngưỡng 290–320 nghìn rúp/tấn.

Mức tăng chi phí nguyên liệu thuần túy sau 4 năm rưỡi lên tới 60–65%, trong khi giá các loại nhôm định hình công nghệ cao thành phẩm – như nhôm tấm, nhôm lá và nhôm ép đùn – đã vọt tăng trung bình 70–85% do các chi phí bổ sung từ việc nhập khẩu song song thiết bị trở nên đắt đỏ và tình trạng thiếu hụt nhân lực.

Hệ lụy là điều này giáng đòn mạnh vào kinh tế của tất cả các ngành công nghiệp liên quan, buộc các doanh nghiệp phải tính toán lại dự toán đầu tư.

Trong ngành kỹ thuật điện và xây dựng năng lượng, nơi nhôm cuộn là thành phần cốt lõi của dây cáp, giá nhôm tăng đã làm tăng dự toán lắp đặt các đường dây tải điện mới lên 25–30% và "ngốn" sạch ngân sách các chương trình.

Trong ngành sản xuất ô tô và toa xe nội địa, nơi tỷ lệ linh kiện nhôm trong các cụm chi tiết và lốc máy chiếm tới 20%, những rắc rối của Rusal đã cộng thêm 6–8% vào giá thành sản xuất thuần của mỗi chiếc xe tải hay toa xe.

Ngành xây dựng cũng chịu đòn đau từ đợt tăng giá này thông qua việc các hệ thống mặt dựng và cửa nhôm kính định hình tăng giá, đóng góp thêm từ 5 đến 7% vào giá thành mỗi mét vuông nhà ở tại các đô thị lớn.

Tuy nhiên, đòn đau nhất lại giáng vào ngành chế tạo máy bay. Dòng máy bay thuần kim loại Tu-214, với phần khung thân cấu thành từ 80% là nhôm, đang phải đối mặt với việc chi phí sản xuất thuần cho mỗi chiếc xuất xưởng tại Kazan tăng 9–11%.

Đối với dòng máy bay chặng ngắn SJ-100, vốn có thân máy bay làm từ 75% hợp kim nhôm, việc chi phí tăng thêm 7–8% cho mỗi khung thân sản xuất hàng loạt là điều khó tránh khỏi.

Chỉ duy nhất dòng máy bay tầm trung MS-21 là "may mắn" hơn cả nhờ được chế tạo 40% từ vật liệu composite, nên dù tấm nhôm-lithium có tăng giá thì giá thành sản xuất của nó cũng "chỉ" tăng khoảng 4–5%.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!