Theo Quyết định số 2887 ngày 30.10.2026 do Thứ trưởng Bộ Công thương Trương Thanh Hoài ký ban hành, khung giá phát điện năm 2026 áp dụng đối với loại hình nhà máy nhiệt điện than có công suất dưới 200 MW được xác định từ 0 - 2.230,51 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Các thông số kỹ thuật và tài chính làm cơ sở tính toán mức giá tối đa gồm: công suất tinh của nhà máy 98.441 kW; suất tiêu hao nhiệt tinh ở mức tải 85% là 2.705,41 kCal/kWh; nhiệt trị than (HHV) 3.784 kCal/kg. Giá than cơ sở được sử dụng trong tính toán là 1.726.715 đồng/tấn, đã bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí hao hụt, chi phí điều hành và giao than.
Đáng chú ý, so với khung giá phát điện nhiệt điện than năm 2025 được Bộ Công thương phê duyệt tại Quyết định số 1009/QĐ-BCT ngày 14.4.2025, mức giá tối đa của khung giá mới cao hơn 524,83 đồng/kWh, tương đương khoảng 30,8%. Năm 2025, khung giá phát điện nhiệt điện than được xác định từ 0 - 1.705,68 đồng/kWh.
Dành cho bạn
- Lời hứa đặc biệt từ Bí thư Phú Quốc với người bán vé số nhận nền tái định cư APEC
- Vây ráp núi Cây Cày truy bắt Hồ Văn Tình, phạm nhân trốn trại A2 cuối cùng
- Cuộc bầu cử giữa kỳ nhiều biến số ở nước Mỹ

Bộ Công thương vừa phê duyệt khung giá phát điện năm 2026 đối với nhà máy nhiệt điện than công suất dưới 200 MW
ẢNH: H.H
Tuy nhiên, hai khung giá này áp dụng cho các nhóm nhà máy có thông số kỹ thuật khác nhau, do đó mức chênh lệch không đồng nghĩa giá phát điện của cùng một nhà máy tăng 30,8%.
Cụ thể, khung giá năm 2025 (Quyết định 1009) sử dụng thông số công suất tinh 1.309,4 MW, suất tiêu hao nhiệt tinh ở mức tải 85% là 2.167,81 kCal/kWh, nhiệt trị than 4.788 kCal/kg và giá than 1.974.952 đồng/tấn. Trong khi đó, nhà máy dưới 200 MW được tính toán trong khung giá năm 2026 có suất tiêu hao nhiệt cao hơn, nhiệt trị than thấp hơn. Những yếu tố này ảnh hưởng đến chi phí nhiên liệu tính trên mỗi kWh điện sản xuất.
Đáng chú ý, mức giá tối đa 2.230,51 đồng/kWh của nhóm nhà máy dưới 200 MW cũng nhỉnh hơn mức 2.218,95 đồng/kWh được Bộ Công thương phê duyệt hồi tháng 7.2026 đối với nhóm nhà máy nhiệt điện than do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và sử dụng 100% vốn chủ sở hữu để đầu tư. Chênh lệch giữa hai mức giá là 11,56 đồng/kWh.
Theo Quyết định 2887, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN ) và các đơn vị phát điện liên quan căn cứ khung giá được phê duyệt để đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện, bảo đảm tuân thủ quy định hiện hành về phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện.