Để cỗ máy tăng trưởng tăng tốc và "cất cánh" trong quý 4

Hai đầu tàu cùng tăng tốc

Quý III, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,86%, mức tăng quý cao nhất trong 10 năm gần đây, theo báo cáo của Thống kê Thành phố. Nhờ quý III tăng tốc, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,06% trong 9 tháng.

Dịch vụ đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng của Thành phố, trong đó vận tải, kho bãi nổi bật với mức tăng 14,16%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục đi lên; đầu tư được mở rộng.

Để cỗ máy tăng trưởng tăng tốc và "cất cánh" trong quý 4 - Ảnh 1

Sức mua, du lịch, đầu tư, xây dựng, sản xuất công nghiệp và dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tạo thêm lực đẩy cho nền kinh tế. Ảnh minh hoạ: H.P

Khảo sát doanh nghiệp công nghiệp cũng ghi nhận triển vọng khá tích cực, hơn một phần ba dự kiến quý IV thuận lợi hơn quý III, thêm 45,2% dự kiến ổn định. Phần lớn doanh nghiệp được khảo sát dự kiến hoạt động quý cuối năm ổn định hoặc tốt hơn.

Trong khi đó, Hà Nội cũng tăng tốc, với quý III tăng 10,02%, đưa tăng trưởng 9 tháng lên 8,85%, cao hơn cùng kỳ năm trước. Dịch vụ tiếp tục là trụ đỡ, còn nỗ lực đầu tư hạ tầng thể hiện rõ qua vốn từ ngân sách nhà nước địa phương đạt 107,8 nghìn tỷ đồng, tăng 81,2%.

Trong lĩnh vực đầu tư công, tại Hà Nội, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 451,4 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội của Hà Nội cao hơn cả nước 3,9 điểm %. Điểm sáng nổi bật nhất là vốn ngân sách nhà nước địa phương đạt 107,8 nghìn tỷ đồng, tăng tới hơn 81,2%, nhờ dồn lực đẩy nhanh các đại dự án hạ tầng: Đường Vành đai 4, 7 cầu vượt sông Hồng, mạng lưới đường sắt đô thị và hệ thống hồ điều hòa chống ngập.

Tổng  Bí thư,  Chủ tịch nước Tô  Lâm ghi nhận, biểu dương thành phố Hà Nội và các đơn vị, địa phương liên quan đã nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm của Thủ đô. Trong thời gian qua, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã chỉ đạo sát sao quá trình triển khai các dự án; các sở, ngành, đơn vị và chính quyền địa phương liên quan đã nỗ lực thực hiện các công việc, điều kiện, bảo đảm cho nhà thầu có mặt bằng thi công, hoàn thành đúng tiến độ các công trình, dự án trọng điểm của Thủ đô.

Trên bình diện cả nước, GDP 9 tháng tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95%. Duy trì được mức tăng ấy giữa lúc giá nhiên liệu và vận tải biến động là một kết quả đáng ghi nhận.

Sản xuất ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đi cùng chỉ số tiêu thụ tăng 12,8%. Xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%. Giải ngân đầu tư công đến hết tháng 9 đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng giao, cao hơn cùng kỳ 12,9 điểm phần trăm về tỷ lệ.

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, những kết quả về tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và an sinh xã hội trong 9 tháng đầu năm 2026 rất đáng ghi nhận, cho thấy nỗ lực điều hành của Chính phủ và sự bền bỉ của toàn nền kinh tế.

Những rào cản trên đường băng

Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát doanh nghiệp công nghiệp cho thấy 45,9% nêu nhu cầu thị trường trong nước thấp là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động; 37,8% nêu lãi suất vay vốn cao. Muốn mở rộng sản xuất, doanh nghiệp phải tính xem hàng có bán được và tiền lãi vay có trả nổi hay không.

Đầu tư ngoài nhà nước của Thành phố tăng 5,3%, trong khi vốn nhà nước tăng 22%. Khu vực ngoài nhà nước chiếm gần một nửa tổng vốn đầu tư thực hiện, nên việc tìm hiểu vì sao dòng vốn này mở rộng chậm hơn có ý nghĩa thiết thực: Doanh nghiệp đang chờ thị trường hay còn vướng vốn, đất đai, thủ tục?

Ở Hà Nội, nỗ lực tăng mạnh vốn ngân sách vẫn đi cùng 190 dự án đầu tư công còn khó khăn, chủ yếu về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng và vật liệu. Thành phố vẫn còn hàng trăm dự án ngoài ngân sách phải tiếp tục xử lý, theo dõi, đôn đốc. Công trình chờ mặt bằng, thủ tục sẽ chậm tạo ra khối lượng và có thể phát sinh thêm chi phí.

Ở bình diện cả nước, cũng đã xuất hiện những chướng ngại vật trên đường băng tăng tốc để cất cánh.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, mới đáp ứng khoảng 61% nhu cầu năm là 5,1 triệu tỷ đồng – số vốn cần có để đảm bảo tăng trưởng hai con số. Phần còn lại gần 2 triệu tỷ đồng, cần được đưa vào thực hiện trong quý cuối năm để đáp ứng nhu cầu vốn ấy.

Quan trọng hơn, nguồn của số vốn khổng lồ đó đến từ đâu? Đó là khối lượng rất lớn trong thời gian ngắn. Nhu cầu này thuộc toàn xã hội, gồm khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI. Huy động đủ tiền vẫn chưa xong vì dự án còn phải thi công được, thiết bị phải được lắp đặt và đưa vào sử dụng đúng tiến độ.

Trong khi đó, còn 1.131 dự án tồn đọng đã có phương án nhưng chưa hoàn thành tháo gỡ, tổng mức đầu tư khoảng 779 nghìn tỷ đồng. Quy mô này không phải tiền có thể giải ngân ngay, nhưng cho thấy nguồn lực đang chờ được giải phóng lớn đến mức nào.

Tiến độ giải ngân cũng rất khác nhau: còn 7 bộ, cơ quan dưới 15% hoặc chưa giải ngân; 37 dự án, dự án thành phần dưới 40% kế hoạch. Trong khi đó, theo Bộ Xây dựng, cát xây dựng tại các công trình trọng điểm chỉ đáp ứng khoảng hai phần ba nhu cầu. Thiếu vật liệu có thể kéo dài tiến độ và làm tăng chi phí.

Doanh nghiệp cũng đang chịu sức ép. Bộ Tài chính cho biết bình quân 8 tháng, doanh thu tăng 21%, trong khi chi phí mua vào tăng 27%. Bán được nhiều hàng hơn chưa chắc giúp doanh nghiệp có thêm tiền để đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất nếu chi phí tiếp tục tăng nhanh.

Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 9 tháng giảm 3,2% so với cùng kỳ; riêng số quay trở lại hoạt động giảm 14%. Phần lớn doanh nghiệp rút lui là tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và có quy mô nhỏ. Khả năng phục hồi của họ cần được quan tâm, bởi đi cùng hoạt động kinh doanh là việc làm và thu nhập.

Dư địa hỗ trợ tăng trưởng bằng tín dụng cũng đang thu hẹp. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, tỷ lệ tín dụng trên tiền gửi (LDR) đến giữa năm 2026 lên khoảng 115%. Trong khi đó, huy động vốn tăng chậm hơn tín dụng đã kéo dài trong 5 năm qua, và đang tăng tốc trong năm nay để đáp ứng cho nhu cầu vốn của các công trình lớn. Muốn cho vay thêm, ngân hàng phải tìm được nguồn vốn tương ứng.

Sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đô thị của Hà Nội hướng tới mục tiêu lấy người dân làm trung tâm. Ảnh: Quang Thái

Thực tế đó dẫn đến tình trạng, lãi suất cho vay bình quân đối với giao dịch phát sinh mới đang có xu thế tăng lên gần hai con số, tăng cao so với cuối năm 2025. Với những khoản vay chịu lãi suất hai con số, doanh nghiệp càng phải tính kỹ khả năng sinh lời và trả nợ trước khi mở rộng sản xuất.

Tăng hạn mức cho vay chưa tự tạo thêm nguồn vốn dài hạn. Khi phải huy động với chi phí cao hơn, ngân hàng cũng khó giảm lãi vay. Ngân hàng còn phải bảo đảm khả năng chi trả, trong khi điều hành tiền tệ chịu sức ép từ lạm phát và nhu cầu ngoại tệ. Khó có thể trông cả phần vốn đầu tư còn thiếu vào tín dụng.

Xuất khẩu tăng mạnh nhưng nhập khẩu lên gần 454 tỷ USD, khiến cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD.

Nhập khẩu thiết bị và đầu vào có thể bổ sung năng lực sản xuất. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu tăng đi cùng nhu cầu thanh toán ngoại tệ. Việc tăng tốc phải tính đến khả năng cân đối nguồn ngoại tệ và thời gian chuyển đầu vào nhập khẩu thành sản phẩm, nguồn thu.

Thách thức bên ngoài còn đến qua nhiên liệu. Hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz bị hạn chế, cùng tình trạng thiếu hụt dầu diesel trên thị trường quốc tế, làm tăng giá nhiên liệu và vận tải, làm giá xăng dầu thế giới tăng khoảng 11–21% so với bình quân tháng 8.

Trong nước, nguồn cung cơ bản được bảo đảm, nhưng đã có hiện tượng bán cầm chừng dầu diesel tại một số địa phương và phải điều tiết nguồn đến nơi thiếu hụt cục bộ. Nhiên liệu đắt hơn làm tăng chi phí thi công, sản xuất; cung ứng gián đoạn có thể ảnh hưởng tiến độ ngay cả khi đã bố trí được vốn.

CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, đã vượt mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm. Thu nhập bình quân người lao động tăng 9,1% là kết quả tích cực, nhưng phần cải thiện đời sống còn phụ thuộc vào chi phí thực phẩm, nhà ở, đi lại, học hành. Những khoản thiết yếu tăng giá sẽ thu hẹp phần tiền dành cho mua sắm khác, ảnh hưởng trở lại đến đầu ra của doanh nghiệp .

Để cất cánh trong quý cuối năm

Theo Nghị quyết 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 của Chính phủ, có thể thấy rõ hơn khối lượng công việc còn lại: kịch bản tăng trưởng cả nước quý IV là 12,5%, so với mức thực hiện 9,95% của quý III.

Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng 13,23%, Hà Nội cần tăng 16,55%, so với mức tăng quý III lần lượt là 9,86% và 10,02%. Hai thành phố cộng lại chiếm 35,70% tổng GRDP cả nước năm 2025. Với quy mô hơn một phần ba tổng GRDP cả nước, hai thành phố sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tăng trưởng năm.

Yêu cầu tăng tốc cũng đặt ra ở nhiều địa phương khác: Hải Phòng cần tăng 15,39%, Thanh Hóa 17,10%, Vĩnh Long 17,25%, Lạng Sơn 18,41%. Đây là các mức cần đạt theo kịch bản, không phải dự báo kết quả.

Mỗi địa phương cần chỉ rõ phần tăng thêm sẽ đến từ đâu. Dự án nào đủ điều kiện thi công ngay, doanh nghiệp nào đã có đơn hàng và có thể nâng sản lượng trong ba tháng còn lại?

Chính Nghị quyết 312 nhận diện các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt kỳ vọng, thị trường trong nước chưa được thúc đẩy rõ nét; doanh nghiệp còn hạn chế trong tiếp cận vốn; tổng vốn đầu tư toàn xã hội chưa đáp ứng yêu cầu. Tiền tệ, tín dụng, tỷ giá và lãi suất tiếp tục chịu sức ép.

Đặt cạnh nhu cầu vốn còn lớn, chính sách tiền tệ đã đạt giới hạn và biến động nhiên liệu từ bên ngoài, những nhận định này cho thấy hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn.

Vì thế, kế hoạch tăng tốc cần tính đủ các điều kiện cần và đủ, đặc biệt là các cân đối lớn của nền kinh tế phải giữ cho bằng được.

Trong Nghị quyết 312, Chính phủ yêu cầu gắn tăng trưởng với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát; lấy hiệu quả kinh tế, năng suất, sự phát triển của doanh nghiệp , việc làm và thu nhập làm thước đo.

Đây chính là nền tảng vĩ mô quan trọng nhất, phải ưu tiên gìn giữ như đường băng cho tăng tốc, cất cánh.

Gia cố lại "đường băng"

Kết quả kinh tế 9 tháng cho thấy nỗ lực lớn của Chính phủ trong điều hành, tháo gỡ vướng mắc và thúc đẩy sản xuất, đầu tư giữa nhiều biến động bên ngoài. Đà tăng tốc qua từng quý, tiến độ giải ngân được cải thiện và xuất khẩu tiếp tục mở rộng là những thành quả đáng ghi nhận. Cùng với sự thích ứng của doanh nghiệp , những nỗ lực ấy đã tạo thêm cơ sở để phấn đấu mục tiêu tăng trưởng cao.

Để duy trì đà đi lên, TS Nguyễn Đình Cung - chuyên gia kinh tế lưu ý, cần quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực. Điểm đáng quan tâm bậc nhất là đầu tư và tín dụng tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, nhưng khả năng cung ứng vốn của ngân hàng phải được cân đối với nguồn huy động, thanh khoản và kỳ hạn cho vay. Khi chi phí vốn tăng, việc lựa chọn dự án có thị trường, có khả năng tạo dòng tiền càng trở nên cần thiết.

Chuyên gia kinh tế nhận xét, doanh thu doanh nghiệp tăng 21%, trong khi chi phí mua vào tăng 27%. Những tỷ lệ này chưa đủ để tính mức thay đổi lợi nhuận, song cho thấy doanh nghiệp cần được hỗ trợ giảm chi phí để có thêm khả năng tích lũy và mở rộng sản xuất. Giải quyết hồ sơ nhanh hơn, thanh toán đúng hạn hay bớt một thủ tục không cần thiết đều có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguồn lực.

TS Nguyễn Đình Cung cũng lưu ý, những khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tiếp cận vốn, đất đai và lao động. Trong quá trình triển khai các dự án lớn, cần tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp trong nước tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Khi có đơn hàng và điều kiện nâng năng lực sản xuất, họ sẽ đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng, đồng thời duy trì việc làm và thu nhập.

Việc đẩy nhanh đầu tư cũng cần đi cùng chuẩn bị nguồn vật liệu, năng lượng và vận tải. Nguồn cung ổn định sẽ giúp công trình giữ tiến độ, hạn chế phát sinh chi phí và giảm sức ép lên giá cả. Điều này càng có ý nghĩa khi người dân vẫn phải cân đối chi tiêu trước mức tăng giá của nhiều mặt hàng thiết yếu.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết còn 1.131 dự án tồn đọng đã có phương án nhưng chưa hoàn thành tháo gỡ. Tiếp tục xử lý những dự án này sẽ bổ sung nguồn lực cho phát triển. Với công trình sắp hoàn thành, sớm đưa vào sử dụng sẽ giúp vốn đầu tư phát huy tác dụng. Với doanh nghiệp đang hoạt động, tháo gỡ đúng vướng mắc có thể giúp họ duy trì sản xuất và từng bước mở rộng mà chưa phải vay thêm.

Câu hỏi TS Nguyễn Đình Cung đặt ra là tài sản hình thành từ đầu tư hôm nay có giúp nâng năng suất, năng lực sản xuất và tạo được dòng tiền trong tương lai hay không. Theo dõi sát những kết quả ấy sẽ giúp công tác điều hành lựa chọn đúng nơi cần tập trung nguồn lực. Mỗi công trình hoạt động hiệu quả, mỗi doanh nghiệp có thêm khả năng đầu tư sẽ góp phần củng cố nền tảng để nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao trong những năm tới.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!