Hạn mặn có thể chạm kỷ lục năm 2016
Cập nhật mới nhất của PGS-TS Nguyễn Văn Hồng, Phó phân viện trưởng Phân viện Khoa học khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển, cho thấy nhiệt độ mặt nước biển khu vực Nino 3.4 hiện cao hơn bình thường 2,5 độ C. Từ đó, có thể dự báo xác suất trên 83% El Nino sẽ duy trì cường độ mạnh đến rất mạnh trong giai đoạn tháng 1 - 3.2027. Vừa qua, tác động cộng hưởng của El Nino và biến đổi khí hậu khiến lượng mưa trong mùa mưa năm 2026 tại một số lưu vực thiếu hụt khoảng 40%, kéo theo lượng dòng chảy một số khu vực giảm khoảng 30%. Mùa mưa có xu hướng kết thúc sớm, làm hạn chế khả năng tích trữ nước ngọt và bổ cập nguồn nước dưới đất trước mùa khô 2026 - 2027. Đáng lưu ý, năm nay đã xuất hiện tình trạng thiếu hụt mưa nghiêm trọng tại một số khu vực. "El Nino cường độ mạnh xuất hiện đồng thời trên nền khí hậu toàn cầu nóng lên, làm trầm trọng thêm tác động hạn hán và suy giảm nguồn nước", ông Hồng nhận định.
Với ĐBSCL, một trong những đặc điểm quan trọng nhất là sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước từ bên ngoài. Ông Trần Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thủy nông và cấp nước (Viện Khoa học thủy lợi miền Nam), cho biết tổng lượng nước mặt của vùng vào khoảng 471 tỉ m³, trong đó khoảng 94% đến từ bên ngoài; riêng mùa khô, tỷ lệ nguồn nước bên ngoài lên tới 98%. Con số này cho thấy an ninh nguồn nước của đồng bằng còn chịu tác động từ diễn biến dòng chảy trên lưu vực Mê Kông, hoạt động khai thác nước và vận hành hồ chứa ở thượng nguồn. Khi dòng chảy về giảm, nước mặn từ biển theo các cửa sông tiến sâu hơn vào các nhánh sông và nội đồng. Nguy cơ xâm nhập mặn mùa khô 2026 - 2027 có thể tương đương mùa khô hạn lịch sử năm 2016. Theo đó, hệ thống sông Vàm Cỏ, ranh mặn 4g/l có thể vào sâu từ 110 - 130 km còn trên hệ thống sông Cửu Long phổ biến từ 55 - 75 km, riêng sông Hàm Luông, mặn vào sâu nhất là 70 - 75 km.

Các chuyên gia cảnh báo Nam bộ sắp đối mặt với giai đoạn khô hạn và xâm nhập mặn gay gắt
ẢNH: CÔNG HÂN
Nam bộ là khu vực dễ bị tổn thương với 2 yếu tố quan trọng. Thứ nhất, khu vực miền Đông, đặc biệt TP.HCM, là đầu tàu kinh tế còn miền Tây lại là vựa lúa, cá tôm. Nguy cơ hạn mặn gay gắt có khả năng ảnh hưởng khoảng 350.000 ha lúa đông xuân sắp tới. Điều này làm đảo lộn lịch thời vụ, tăng chi phí bơm tưới, ảnh hưởng năng suất và chất lượng nông sản. Nếu nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm mặn hoặc không bảo đảm chất lượng, sẽ tác động trực tiếp hơn đối với đời sống người dân, nhất là các khu vực ven biển, vùng sâu và những nơi xa hệ thống cấp nước tập trung. Với công nghiệp và đô thị, nước là đầu vào thiết yếu cho sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt và liên quan đến hoạt động kinh tế, sức khỏe cộng đồng và chất lượng môi trường.
Chủ động ứng phó
PGS-TS Nguyễn Văn Hồng khuyến nghị để ứng phó nguy cơ hạn mặn gay gắt cần đặt trọng tâm vào quản lý tổng hợp lưu vực, phối hợp vận hành hồ chứa, chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới và xây dựng bản đồ rủi ro hạn hán - xâm nhập mặn gắn với các công trình lấy nước, vùng sản xuất.
Ông Trần Minh Tuấn cũng nhận xét trong những năm qua, công tác ứng phó hạn mặn của chúng ta có nhiều kết quả rất tích cực. Cụ thể, nếu năm 2016 có đến 405.000 ha lúa và 28.500 ha cây ăn trái bị ảnh hưởng thì đến năm 2020, diện tích lúa bị ảnh hưởng giảm đến gần 72% và năm 2024 giảm đến 99,7%, chỉ còn 1.232 ha bị ảnh hưởng. Tương ứng, diện tích cây ăn trái bị ảnh hưởng giảm tương ứng là 12% và 96,6%. Đáng chú ý là số hộ bị ảnh hưởng về nguồn nước sinh hoạt từ 210.000 hộ năm 2016 xuống còn 75.606 hộ năm 2024.
Dành cho bạn
- Công an TP.HCM bắt giang hồ mạng ‘Hiệp đen' cùng 13 đối tượng liên quan
- Luật sư xin cho bố mẹ Mr Pips án treo, trả lại vàng, ô tô, bất động sản
- Lời thú nhận của Hiệp đen: 'Vàng vòng tôi đeo là giả, mua ngoài chợ'
Người dân miền Tây được khuyến cáo chuẩn bị các phương án, thiết bị trữ nước cho mùa khô 2026 - 2027
ẢNH: LÊ ANH TUẤN
"Sự tích cực trong công tác phòng, chống hạn mặn là nhờ tận dụng kinh nghiệm và những chuyển biến quan trọng từ ứng phó bị động, xử lý tình huống khẩn cấp sang chủ động dự báo, ứng phó từ sớm. Chính quyền và các cơ quan chuyên môn từ T.Ư đến địa phương đã điều hành linh hoạt nguồn nước và từng bước thích ứng với điều kiện tự nhiên. Theo đó, từng bước nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và xây dựng kế hoạch sử dụng nước phù hợp đối với từng khu vực cụ thể. Bên cạnh đó, đầu tư xây dựng công trình và vận hành hệ thống công trình thủy lợi hiệu quả. Tổ chức sản xuất nông nghiệp linh hoạt và đảm bảo nước sinh hoạt cho người dân", ông Tuấn phân tích.
Với xu hướng biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng cùng các tác động về sụt lún mặt đất, nước biển dâng, Viện Khoa học thủy lợi miền Nam đề xuất kết hợp các giải pháp công trình và phi công trình, từ hoàn thiện hệ thống kiểm soát mặn, điều tiết nguồn nước, nạo vét kênh dẫn đến tăng khả năng trữ nước phân tán trong kênh rạch, ao hồ, vườn cây và hộ gia đình. Đặc biệt cần chuyển đổi từ tư duy chống chịu với tự nhiên sang thích ứng, xem nước mặn, nước lợ và nước ngọt là những nguồn tài nguyên cần được quản lý phù hợp. Phục vụ chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, nước mặn, nước ngọt, nước lợ đều là tài nguyên. Bên cạnh đó, chuyển từ quản lý theo công trình sang quản lý liên vùng, liên tỉnh; từ phục vụ sản xuất sang bảo đảm an ninh nguồn nước.
An ninh nguồn nước cần đảm bảo đủ cả lượng và chất
Ngày 6.11, tại TP.HCM, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ NN-MT) tổ chức hội thảo "An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Nino và biến đổi khí hậu : Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông". Trước tác động của El Nino , ĐBSCL vừa phải bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất vừa phải chủ động thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và những biến động của dòng chảy sông Mê Kông. Trong khi đó, tại Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây nguyên, yêu cầu bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phát triển đô thị cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt trong mùa khô.
Tại hội thảo, nhà báo Lý Thị Hồng Điệp, Phó tổng biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, phát biểu: "An ninh nguồn nước không chỉ là bảo đảm đủ lượng nước mà còn phải bảo đảm chất lượng và khả năng chủ động ứng phó trước những biến động của tự nhiên. Do đó, cần chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang quản trị chủ động; từ quản lý riêng lẻ theo ngành, địa giới hành chính sang quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, dựa trên dữ liệu và dự báo khoa học".