Đây là lần đầu tiên tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ chạm ngưỡng 100% vào cuối một năm tài khóa kể từ năm 1946, thời điểm nợ chính phủ lên tới 106% GDP do các khoản vay phục vụ Thế chiến II. Con số mới tăng so với mức 99,4% GDP cuối năm tài khóa 2025, nhưng vẫn thấp hơn dự báo 100,6% mà Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) đưa ra hồi tháng 2.
Dữ liệu được xác định sau khi Mỹ công bố báo cáo tăng trưởng kinh tế quý III. Dù nền kinh tế tăng trưởng mạnh trong giai đoạn này, tốc độ vay nợ của chính phủ cũng gia tăng nhanh chóng.
Thâm hụt ngân sách liên bang năm tài khóa 2026 lên tới gần 2.000 tỷ USD, tương đương 6,2% GDP. Đây là mức thâm hụt lớn bất thường đối với một nền kinh tế không trong tình trạng suy thoái hay khủng hoảng nghiêm trọng.
Tổng nợ liên bang Mỹ gần đây đã vượt 40.000 tỷ USD, nhưng các nhà kinh tế thường sử dụng chỉ số nợ do công chúng nắm giữ để đánh giá chính xác hơn gánh nặng tài khóa. Tổng nợ liên bang bao gồm cả những khoản một cơ quan chính phủ nợ cơ quan khác, chẳng hạn trái phiếu kho bạc được nắm giữ trong quỹ tín thác An sinh Xã hội.
Trong khi đó, nợ do công chúng nắm giữ chủ yếu phản ánh nghĩa vụ của chính phủ đối với các chủ nợ bên ngoài hệ thống tài khoản nội bộ liên bang, gồm nhà đầu tư cá nhân, tổ chức tài chính và chính phủ nước ngoài.
Theo cách tính này, khoản nợ 32.200 tỷ USD đã tương đương toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế Mỹ tạo ra trong 1 năm.
Mỹ từng chạm ngưỡng 100% GDP trong một số thời điểm đầu năm nay. Tuy nhiên, đây là lần đầu tỷ lệ này được ghi nhận vào cuối năm tài khóa kể từ năm 1946. Con số 100,03% vẫn có thể thay đổi nếu dữ liệu GDP quý III được điều chỉnh.
Tình hình tài khóa hiện nay trái ngược hoàn toàn với nước Mỹ cách đây hơn 2 thập kỷ. Cuối những năm 1990, kinh tế tăng trưởng mạnh, chính phủ kiểm soát chi tiêu và nguồn thu thuế từ làn sóng công nghệ Internet giúp ngân sách liên bang liên tục thặng dư.
Năm 2000, tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ chỉ ở mức 33,7% và đang có xu hướng giảm. Đầu năm 2001, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi đó là Alan Greenspan thậm chí bắt đầu lo ngại về những hệ quả kinh tế và thị trường nếu chính phủ trả hết nợ.
Tuy nhiên, kịch bản này đã không xảy ra. Quốc hội Mỹ liên tiếp thông qua các đợt cắt giảm thuế và tăng chi tiêu để ứng phó với những biến cố lớn, từ vụ khủng bố ngày 11/9/2001, khủng hoảng tài chính 2008-2009 đến đại dịch Covid-19 năm 2020.
Dân số già hóa cũng khiến chi phí dành cho các chương trình An sinh Xã hội và bảo hiểm y tế Medicare liên tục tăng. Hệ quả là tỷ lệ nợ công trên GDP gần như tăng gấp ba trong vòng 26 năm, đưa Washington tiến sát kỷ lục từng được thiết lập sau Thế chiến II.
Triển vọng tài khóa Mỹ trong những năm tới tiếp tục đối mặt nhiều thách thức. Quỹ tín thác An sinh Xã hội được dự báo cạn nguồn dự trữ vào năm 2032. Nếu Quốc hội không có biện pháp điều chỉnh, chương trình có thể phải tự động cắt giảm mức chi trả phúc lợi.
Trong khi đó, chi phí trả lãi nợ được xem là một trong những khoản chi khó cắt giảm nhất của ngân sách liên bang. CBO dự báo chi phí lãi vay ròng sẽ tăng thêm hơn một điểm phần trăm GDP trong thập kỷ tới. Đáng chú ý, dự báo này được xây dựng dựa trên giả định lãi suất thấp hơn đáng kể so với mặt bằng hiện nay.
Theo tính toán, nếu lãi suất cao hơn dự báo của CBO chỉ 0,1 điểm phần trăm, tổng chi phí trả lãi của chính phủ Mỹ trong 10 năm sẽ tăng thêm 379 tỷ USD. Điều này cho thấy ngay cả những biến động nhỏ của lãi suất cũng có thể tạo ra gánh nặng ngân sách rất lớn khi quy mô nợ đã lên tới hàng chục nghìn tỷ USD.
Phillip Swagel, Giám đốc CBO, cho biết nhiều nhà lập pháp Mỹ đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình tài khóa. Tuy nhiên, theo ông, trở ngại lớn nhất nằm ở sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội và chính trường Mỹ, khiến việc tìm kiếm đồng thuận về các biện pháp tăng thu ngân sách hoặc kiểm soát chi tiêu trở nên khó khăn.
Theo WSJ
- Tham khảo thêm
Khoan hơn 7.200 mét, liên tiếp phát hiện 3 tầng chứa dầu trữ lượng lên tới 10 tỷ thùng
- Tham khảo thêm
Khoản hỗ trợ cho Ukraine khiến EU phải trả ít nhất 35 tỷ euro tiền lãi, 4 quốc gia lên tiếng phản đối