Nguồn, lưới điện đều chậm tiến độ
Theo Báo cáo số 760 của Bộ Công thương , VN đang đối mặt với những thách thức về mất cân đối cung cầu năng lượng. Đặc biệt, tình hình triển khai các dự án điện của địa phương trong thời gian qua "rất chậm", tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh cung ứng điện, không thể kịp đáp ứng đưa vào vận hành trong giai đoạn từ nay đến năm 2030. Đáng nói, sau hơn 3 năm triển khai Quy hoạch điện 8 , chỉ có khoảng 5% dự án nguồn điện lớn được đưa vào vận hành; khoảng 9% đã khởi công nhưng chưa vận hành; 28% đã lựa chọn được nhà đầu tư nhưng chưa khởi công; khoảng 12% đang có chủ trương đầu tư nhưng chưa lựa chọn được nhà đầu tư và đặc biệt, có đến 45% còn lại chưa có chủ trương đầu tư.

Bảo đảm đủ điện không chỉ cần thêm nguồn mà còn phải đáp ứng khả năng truyền tải đến các trung tâm phụ tải
Ảnh: Nhật Thịnh
Tương tự, hệ thống truyền tải điện cũng chịu áp lực lớn. Tập đoàn Điện lực VN (EVN) và các đơn vị đã triển khai hàng trăm công trình lưới điện song mới có khả năng thực hiện khoảng 28,6% khối lượng dự án lưới điện của Quy hoạch điện 8 và hơn 40% khối lượng lưới điện dự kiến nhà nước đầu tư cần hoàn thành trong giai đoạn 2025-2030; phần còn lại là đầu tư theo hình thức xã hội hóa.
Năm nay, tổng sản lượng điện sản xuất dự kiến đạt 354,4 tỉ kWh, tăng xấp xỉ 9,7% so với năm 2025 nên việc cung cấp điện trước mắt chưa chịu áp lực. Tuy nhiên, sang năm 2027 và đến năm 2030, nhu cầu tăng mạnh và khoảng trống giữa cung - cầu ngày càng tăng. Đơn cử năm 2027, nếu tiến độ các dự án không được cải thiện, Bộ Công thương ước tính công suất sẽ thiếu khoảng 4.256 MW, sản lượng điện thiếu hụt khoảng 2,9 tỉ kWh; năm 2028 công suất thiếu hụt của hệ thống điện quốc gia tăng lên khoảng 8.309 MW, sản lượng thiếu hụt khoảng 20,7 tỉ kW. Đáng nói, riêng miền Bắc năm 2028 thiếu khoảng 9.678 MW, tương ứng sản lượng thiếu hụt khoảng 17,3 tỉ kWh. Đến 2030, dự báo cả nước thiếu khoảng 13.964 MW, sản lượng thiếu hụt khoảng 61,18 tỉ kWh; riêng miền Bắc thiếu khoảng 13.026 MW, tương ứng sản lượng thiếu khoảng 44,65 tỉ kWh.
Từ thực tế trên, Bộ Công thương đưa ra một số giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm cung ứng điện từ năm 2027, 2028. Cụ thể là giao chỉ tiêu cho từng địa phương (đặc biệt là miền Bắc) phát triển điện mặt trời sản xuất, tự tiêu thụ. Trước mắt sử dụng ngân sách nhà nước để lắp đặt điện mặt trời tại trụ sở cơ quan, trường học, bệnh viện, công sở... với quy mô khoảng 2.800 MW và hoàn thành trước tháng 6.2027. Đồng thời, khuyến khích lắp đặt điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ tại các khu công nghiệp,
cơ sở sản xuất, doanh nghiệp có quy mô công suất tự dùng kết hợp pin lưu trữ (BESS); phấn đấu đạt khoảng 3.000 - 5.000 MW tại các địa phương trước mùa khô; tập trung các dự án BESS bổ sung khoảng 2.000 - 3.000 MW để phụ tải vào giờ cao điểm. Giải pháp trước mắt là bảo đảm tiến độ các dự án nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc cũng như đưa vào vận hành các dự án điện mặt trời tập trung đã được cấp chủ trương đầu tư với quy mô 4.000 MW. Sang giai đoạn 2029 - 2030, Bộ Công thương đề xuất xem xét bổ sung một số dự án nhiệt điện than và có lộ trình lắp đặt hệ thống thu giữ carbon theo chủ trương. Đồng thời, ưu tiên bổ sung nguồn điện gió, điện mặt trời tại một số địa phương có tiềm năng tốt, làm thế nào để trong 2 năm 2029 - 2030 có thêm 8.500 MW điện mặt trời và 7.000 MW điện gió trên bờ, gần bờ…
Song song với các giải pháp cấp bách nói trên, về chính sách, Bộ Công thương đề xuất được tổ chức thực hiện điều chỉnh Quy hoạch điện 8 theo 2 bước. Bước thứ nhất là cập nhật quy hoạch theo Nghị quyết số 253 của Quốc hội, cho phép bổ sung các dự án nhiệt điện than mới để bù đắp các dự án LNG chậm tiến độ, bổ sung nguồn năng lượng tái tạo có khả năng triển khai nhanh để bù cho các dự án khác chưa triển khai. Bước hai là điều chỉnh tổng thể Quy hoạch điện 8 theo luật Quy hoạch, trong đó các dự án đã điều chỉnh cập nhật ở bước một phải được gắn kết chặt chẽ với định hướng điều chỉnh tổng thể.
Dành cho bạn
- Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Thái Lan
- U.23 Việt Nam vẫn sáng cửa vào tứ kết: Phải có tỷ số nào trước Philippines và Uzbekistan?
- Ca sĩ Hòa Minzy tham gia Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam
Điều chỉnh quy hoạch nên có nhiều kịch bản
TS Nguyễn Huy Hoạch, chuyên gia năng lượng, thành viên Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng VN , nhận định cấu trúc phụ tải đang thay đổi nhanh, trong khi tiến độ một số nguồn điện và công nghệ được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng vẫn còn nhiều thách thức. Thế nên, việc rà soát, cập nhật, bổ sung Quy hoạch điện 8 điều chỉnh theo đề nghị của Bộ Công thương là cần thiết, bám sát thực tế phát triển của phụ tải, đồng thời chủ động chuẩn bị nguồn, lưới và hạn chế nguy cơ thiếu điện trong giai đoạn 2026 - 2035.
Báo cáo dự kiến đưa vào vận hành các dự án điện mặt trời tập trung đã được cấp chủ trương đầu tư với quy mô 4.000 MW trong 2 năm tới
Ảnh: Ng.Nga
Theo ông Hoạch, cách dự báo nhu cầu điện của chúng ta chủ yếu dựa vào GDP, công nghiệp hóa, đô thị hóa và mức sống. Tuy nhiên, sự phát triển của AI, trung tâm dữ liệu, công nghiệp bán dẫn, khu công nghiệp công nghệ cao và điện hóa giao thông đang tạo ra những dạng phụ tải mới, có quy mô lớn, tập trung và yêu cầu độ tin cậy rất cao. "Câu hỏi của quy hoạch điện không còn đơn giản là nền kinh tế cần bao nhiêu điện, mà phải xác định điện sẽ cần ở đâu, thời điểm nào, công suất bao nhiêu và yêu cầu độ tin cậy như thế nào", TS Nguyễn Huy Hoạch nhấn mạnh.
Đây cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng tổng nguồn điện đủ nhưng vẫn thiếu khả năng cấp điện tại một khu vực. Một trung tâm dữ liệu hoặc khu công nghiệp công nghệ cao có thể triển khai nhanh hơn nhiều so với thời gian xây dựng nhà máy điện, trạm biến áp và đường dây truyền tải. Vì vậy, phải đặc biệt thận trọng với nguy cơ phụ tải tăng cao hơn kịch bản cơ sở, nhất là khi một số nguồn điện lớn có thể chậm tiến độ.
Ông Hoạch lưu ý Quy hoạch điện 8 điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước khoảng 183.291 - 236.363 MW, công suất cực đại 89.655 - 99.934 MW. Tuy nhiên, Bộ Công thương cần thường xuyên rà soát khả năng đưa các nguồn điện vào vận hành đúng tiến độ, cần đánh giá lại khả năng hoàn thành thực tế của từng nhóm nguồn, thay vì mặc định toàn bộ công suất quy hoạch sẽ đưa vào vận hành đúng thời điểm. "Điều cần thiết là xây dựng kịch bản tiến độ thực tế, xác định nguồn nào có khả năng chậm và chuẩn bị phương án thay thế", ông Hoạch nhấn mạnh.
Theo đó, Quy hoạch điện 8 điều chỉnh nên chuyển từ một kịch bản sang nhiều kịch bản, gồm kịch bản phụ tải cao và kịch bản một số nguồn điện chậm tiến độ. Mỗi kịch bản phải xác định rõ nguồn thay thế, khả năng truyền tải và thời điểm cần đưa phương án dự phòng vào vận hành. Đặc biệt, không phải giải quyết câu chuyện phụ tải trong ngắn hạn mà cần lập bản đồ phụ tải mới đến năm 2030 và 2035, gắn các trung tâm dữ liệu, khu công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, đường sắt tốc độ cao... với quy hoạch nguồn và lưới.
Bảo đảm đủ điện không chỉ là xây thêm bao nhiêu MW nguồn điện. Quan trọng là phải nhìn thấy trước phụ tải mới, chuẩn bị nguồn và lưới đúng chỗ, đúng thời điểm, đồng thời có đủ dư địa để điều chỉnh khi thực tế khác dự báo. Quy hoạch điện cần trở thành một hệ thống quản trị động, thường xuyên cập nhật phụ tải, tiến độ nguồn - lưới và những thay đổi của nền kinh tế. Đây là cách để giảm nguy cơ bị động, nhất là trước cảnh báo thiếu điện trong giai đoạn 2027-2030.
TS Nguyễn Huy Hoạch