NH huy động hàng tỉ USD quốc tế
Dư nợ tín dụng toàn hệ thống NH tính đến cuối tháng 9 đạt khoảng 20,75 triệu tỉ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm ngoái. Mặc dù đã cải thiện đáng kể nhưng tăng trưởng huy động vốn của NH cũng chỉ tăng 9,78% dù lãi suất tiết kiệm ở mức cao. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào tín dụng NH, các NH thương mại đẩy mạnh huy động vốn từ nước ngoài thông qua các khoản vay hợp vốn, phát hành trái phiếu quốc tế và bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược đang trở thành một hướng bổ sung nguồn lực tài chính. Đây là năm NH thu hút khá mạnh mẽ nguồn vốn từ nước ngoài.

Ngân hàng tăng cường huy động vốn từ nước ngoài
ẢNH: ĐỘC LẬP
Một trong những hình thức huy động vốn được nhiều NH lựa chọn là vay hợp vốn quốc tế, trong đó nhiều tổ chức tài chính cùng tham gia thu xếp hoặc cung cấp vốn cho một khoản vay. Chẳng hạn, VPBank đã huy động khoản vay hợp vốn trị giá 1,44 tỉ USD trong nửa đầu năm 2026, đồng thời ghi nhận gần 151.000 tỉ đồng vay ngoại tệ và đã phát hành 300 triệu USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 5 năm. Vào cuối tháng 7, HDBank hoàn tất khoản vay hợp vốn xã hội trị giá 721 triệu USD do NH Phát triển châu Á (ADB) và Standard Chartered đồng thu xếp. Trước đó, vào tháng 1.2026, nhà băng này phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế với sự tham gia của IFC , FMO và BII. HDBank dự kiến tiếp tục phát hành tối đa 500 triệu USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn ba năm trong giai đoạn từ cuối năm 2026 đến quý 1/2027. MB đã hoàn tất huy động 550 triệu USD vốn vay nước ngoài trong nửa đầu năm 2026. VIB và Techcombank đặt mục tiêu huy động khoảng 1 tỉ USD, còn ACB đang xúc tiến tiếp cận khoản vay khoảng 300 triệu USD…
Bên cạnh đó, các NH còn phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài bổ sung vốn chủ sở hữu. BIDV đã bán khoảng 3% cổ phần vào tháng 3.2026 và tiếp tục có kế hoạch huy động hoặc bán thêm gần 11% cổ phần; tổng quy mô các kế hoạch lớn được đề cập có thể lên tới khoảng 1,4 tỉ USD. Vietcombank có kế hoạch chào bán 6,5% cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, dự kiến huy động khoảng 1,2 tỉ USD. Techcombank từng đề cập khả năng bán tối đa 15% cổ phần cho một đối tác phù hợp, có năng lực đồng hành dài hạn và hỗ trợ công nghệ. Cổ đông VPBank đã thông qua kế hoạch phát hành riêng lẻ hơn 624,3 triệu cổ phiếu cho một nhà đầu tư nước ngoài năm 2026, đồng thời đàm phán bán từ 15% đến 20% cổ phần cho SMBC , với giá trị được đề cập khoảng 560 triệu USD…
Dành cho bạn
- Dẫn giải Shark Bình và Mr Pips tới tòa
- Quất tết độc, lạ 'cháy hàng' sớm
- Bộ trưởng Quốc phòng Anh: 'Chỉ còn hơn 1.000 ngày chuẩn bị cho chiến tranh'
Các giao dịch này không chỉ giúp NH tăng nguồn vốn phục vụ hoạt động tín dụng, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các định chế tài chính quốc tế, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn và tạo thêm dư địa hỗ trợ nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Giảm áp lực thanh khoản, hỗ trợ lãi suất
Trước những động thái trên, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối đầu tư Công ty chứng khoán An Bình (ABS) nhận định: Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản trong nước ngày càng gia tăng. Trong năm 2025, thanh khoản trong nước tương đối ổn định trong phần lớn nửa đầu năm, trong khi chi phí huy động vốn bằng VND chưa quá cao. Vì vậy, các NH chưa chịu áp lực lớn phải tìm kiếm nguồn vốn quốc tế. Từ khoảng tháng 11.2025, thanh khoản hệ thống bắt đầu chịu áp lực lớn hơn. Những tháng đầu năm 2026, áp lực thanh khoản tăng lên, khiến các NH tăng mạnh lãi suất tiết kiệm cũng như chủ động tìm thêm nguồn vốn bên ngoài để bù đắp chênh lệch giữa tín dụng và huy động . Nhu cầu bổ sung thanh khoản của các NH đã tăng lên trong bối cảnh nguồn tiền gửi trong nước không còn dồi dào như trước, tốc độ tăng trưởng huy động không theo kịp nhu cầu tín dụng. Thêm vào đó, chênh lệch chi phí vốn khiến nguồn vốn quốc tế được quan tâm hơn. Lãi suất huy động trong nước tăng cao cũng là nguyên nhân khiến các nhà băng tìm kiếm nguồn vốn từ nước ngoài.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, sự gia tăng huy động vốn quốc tế của các NH trong năm 2026 có thể được xem là phản ứng trước những sức ép ngày càng lớn đối với nguồn vốn trong nước. Điều đáng quan tâm không chỉ là quy mô vốn huy động tăng bao nhiêu, mà còn là nguồn vốn đó được phân bổ như thế nào, có giúp cải thiện thanh khoản cho nền kinh tế hay không và liệu có thể hạn chế nguy cơ gia tăng nợ xấu trong thời gian tới hay không. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng điều hành lãi suất và tín dụng. Khi nguồn vốn trong hệ thống được cải thiện, chi phí huy động giảm và thanh khoản ổn định hơn, các NH mới có điều kiện thuận lợi hơn để giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc nới rộng hạn mức tín dụng vẫn cần gắn với chất lượng tín dụng và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.