Không gian biển, mặt tiền mới của nền kinh tế
Nếu nhìn từ bản đồ thương mại thế giới, lợi thế lớn nhất của VN trước hết nằm ở vị trí. VN nằm ngay trên tuyến hàng hải quốc tế kết nối Đông Á với Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và xa hơn là châu Âu. Theo Cục Hàng hải và đường thủy VN, hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa của VN hiện đạt khoảng 1,17 tỉ tấn hàng hóa, trong đó container khoảng 34,36 triệu TEU, tăng bình quân 11 - 12%/năm.

Biển mang lại nguồn lợi hải sản và năng lượng phong phú cho kinh tế VN
ảnh: Quang Thuần
3 cụm cảng của VN cũng đã xuất hiện trên bảng xếp hạng cảng container toàn cầu. Cụ thể, theo bảng xếp hạng top 100 cảng container thế giới 2026 của Lloyd's List, cụm cảng biển TP.HCM đứng thứ 22 thế giới, năm 2025 đạt hơn 8,9 triệu TEU, tăng 14,5%; cảng biển Hải Phòng đứng thứ 26, đạt hơn 8,2 triệu TEU, tăng hơn 16%; cụm cảng Cái Mép đứng thứ 31, đạt hơn 7,6 triệu TEU, tăng 7,4%.
Đặc biệt, tháng 4.2026, TP.HCM đã chấp thuận nhà đầu tư cho dự án gồm Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Cảng Sài Gòn và Terminal Investment Limited Holding S.A. đầu tư xây dựng Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ . Dự án có diện tích khoảng 571 ha, công suất dự kiến đến năm 2030 là 4,8 triệu TEU, và đến năm 2047 khoảng 16,9 triệu TEU, với chiều dài cầu cảng chính khoảng 7,5 km. Đây không đơn thuần là một cảng container mà còn trở thành một mắt xích của mạng lưới trung chuyển quốc tế, nơi VN không chỉ nhận hàng của mình, mà còn nhận hàng của các quốc gia khác.
Một thay đổi quan trọng cũng đang diễn ra là sự xuất hiện của các khu thương mại tự do gắn với cảng biển . Đà Nẵng đã thành lập Khu thương mại tự do gắn với Cảng biển Liên Chiểu, với các chức năng gồm sản xuất, logistics, thương mại - dịch vụ. Tháng 7.2026, TP.Hải Phòng chính thức khởi động Khu thương mại tự do Hải Phòng; đồng thời trao giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án với tổng vốn khoảng 3,2 tỉ USD định hướng thu hút công nghệ cao, bán dẫn, R&D, công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hóa, logistics, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số.
TP.HCM cũng đã thành lập Khu thương mại tự do gắn với khu vực cảng biển Cái Mép Hạ. Quy hoạch gồm các phân khu cảng, kho bãi, công nghiệp, đô thị - dịch vụ và một trung tâm logistics Cái Mép Hạ rộng khoảng 906 ha. Định hướng sau năm 2035, khu thương mại tự do này sẽ trở thành hạt nhân của Trung tâm kinh tế biển vùng Đông Nam bộ, đồng thời hướng tới vị thế cảng trung chuyển lớn của khu vực.
Có thể thấy, hệ thống cảng biển hiện tại và các siêu cảng trong tương lai không chỉ là nơi tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa mà còn là những cực tăng trưởng mới - nơi cảng, logistics, công nghiệp, thương mại, tài chính, đô thị, dịch vụ, công nghệ liên kết với nhau.
Tương tự, trước đây nếu dầu khí từng được xem là tài nguyên năng lượng lớn nhất của VN thì hiện nay điện gió ngoài khơi có thể trở thành một trong những "mỏ" năng lượng quan trọng. Lãnh đạo Bộ Công thương khẳng định, việc phát triển điện gió ngoài khơi tại VN không chỉ nhằm bổ sung nguồn điện sạch mà còn được xem là cơ hội chiến lược để phát triển công nghiệp hỗ trợ, chuỗi cung ứng nội địa, nâng cấp hạ tầng cảng biển và tạo việc làm kỹ năng cao. Quy hoạch điện 8 điều chỉnh đánh giá tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của VN khoảng 600.000 MW để sản xuất điện và năng lượng mới. Mục tiêu phục vụ nhu cầu điện trong nước khoảng 6.000 MW vào năm 2030, tăng lên 17.032 MW vào năm 2035, và định hướng đến năm 2050 khoảng 113.000 - 139.000 MW.
Khai thác tiềm năng của kinh tế biển xanh
Theo World Bank, kinh tế xanh biển là việc sử dụng bền vững tài nguyên đại dương để tạo tăng trưởng, sinh kế và việc làm, đồng thời bảo vệ sức khỏe hệ sinh thái biển. Với VN, đây có thể là một trong những thay đổi lớn nhất về mô hình kinh tế biển . Trong đó, nuôi biển là một trong những lĩnh vực có tiềm năng lớn nhất. Số liệu cập nhật của cơ quan quản lý biển, năm 2025 sản lượng nuôi biển đạt khoảng 832.000 tấn, thể tích lồng nuôi khoảng 9,7 triệu m³, tăng gần 39% so với năm 2020. Hiện một số địa phương ven biển như Khánh Hòa, Đà Nẵng, Bình Thuận (Lâm Đồng) đang hướng tới phát triển kinh tế biển bền vững, từng bước hình thành vùng nuôi biển từ 3 - 6 hải lý, vừa đảm bảo phát triển kinh tế biển , vừa giảm áp lực nuôi biển ven bờ.
Đồ họa: BẢO NGUYỄN
Các chuyên gia thủy sản đã dự báo với sự phát triển của công nghệ, trong tương lai gần, người nuôi có thể theo dõi và quản lý hoạt động trang trại từ xa một cách hiệu quả hơn. Các cảm biến, camera dưới nước, hệ thống quan trắc môi trường và thiết bị cho ăn tự động sẽ liên tục cung cấp dữ liệu về chất lượng nước, hoạt động bắt mồi, tốc độ tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của vật nuôi. Những dữ liệu này sẽ được tích hợp vào các phần mềm hỗ trợ ra quyết định, kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích theo thời gian thực, từ đó đưa ra các khuyến nghị về lượng thức ăn, thời điểm cho ăn, loại thức ăn phù hợp, đồng thời có khả năng dự báo sớm nguy cơ stress hoặc dịch bệnh.
Chưa dừng ở đó, biển chứa một kho tài nguyên sinh học khổng lồ từ vi sinh vật, rong biển, tảo, động vật không xương sống đến các hợp chất sinh học trong sinh vật biển, nhiều thành phần có thể trở thành nguyên liệu cho dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, enzyme, vật liệu sinh học, hóa chất sinh học, thực phẩm mới... Đây là lĩnh vực mà VN hiện chưa khai thác tương xứng với tiềm năng.
Chương trình hành động mới của Chính phủ đã đưa dược liệu biển và công nghệ sinh học biển vào nhóm ngành kinh tế biển mới cần nghiên cứu, phát triển. Đây là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn vào sinh học phân tử, công nghệ gien, phòng thí nghiệm, dữ liệu sinh học, doanh nghiệp dược… Nếu thành công, giá trị tạo ra có thể cao hơn rất nhiều so với xuất khẩu nguyên liệu thô. Hướng đi này đã được cụ thể hóa trong chương trình hành động của Chính phủ năm 2026 khi xác định y - dược liệu biển là một trong những ngành kinh tế biển mới, cùng với nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển và các dạng năng lượng biển; các mô hình này được định hướng nghiên cứu, thử nghiệm và triển khai trong giai đoạn 2026 - 2030.
Dành cho bạn
- Toàn cảnh ngập TP.HCM sau mưa lớn: Vì sao cống vẫn thoát nước, nhưng nước rút quá chậm?
- Đội tuyển Việt Nam nhận tin vui từ các cựu binh
- Tin tức quốc tế sáng 19.10: Ông Zelensky gửi thông điệp tới ông Trump
Tương tự, hiện VN đã bắt đầu tiến vào thị trường lĩnh vực carbon xanh. Theo Bộ NN-MT, các tính toán ban đầu cho thấy carbon xanh có thể đóng góp khoảng 3 triệu tấn CO2 vào mục tiêu giảm phát thải của VN đến năm 2035 nhờ điều kiện tự nhiên hiện có khoảng 200.000 ha rừng ngập mặn.
Một ví dụ đáng chú ý là rừng ngập mặn Cần Giờ . Các đánh giá được công bố năm 2025 cho biết hệ sinh thái này có tiềm năng tạo khoảng 1 - 5 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về phương pháp luận, đo đạc, báo cáo và xác minh.
World Bank ước tính các dịch vụ hệ sinh thái biển khỏe mạnh của VN có thể tạo thêm giá trị tương đương khoảng 0,6% GDP, bên cạnh phần đóng góp trực tiếp của các ngành kinh tế biển .
Định hướng phát triển kinh tế biển xanh mang đến tư duy đột phá
ảnh: Quang Thuần
Những giải pháp cho tương lai
Ông Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-MT, người từng gắn bó hàng chục năm với ngành nông nghiệp và thủy sản, hiện giữ chức Chủ tịch Hội Thủy sản VN, cho rằng Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực ven biển trên 11%/năm là một bước chuyển rất lớn. Để đạt mục tiêu này, cơ cấu kinh tế phải gắn với cơ cấu lao động, đồng thời quy hoạch không gian biển phải đủ rõ để xác định các khu vực phát triển điện gió, thăm dò dầu khí , du lịch, cảng biển , đóng tàu và các hoạt động kinh tế khác.
Theo ông Phùng Đức Tiến, cùng với quy hoạch, cần rà soát lại hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển năng lượng ngoài khơi, dầu khí , du lịch, đóng tàu, nuôi biển và khai thác thủy sản. Khi không gian phát triển được xác định rõ, doanh nghiệp mới có cơ sở tính toán đầu tư dài hạn, còn cơ quan quản lý có thể chủ động kiểm soát các hoạt động chồng lấn, hạn chế tranh chấp và sử dụng kém hiệu quả nguồn lực biển.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế biển không thể tách rời yêu cầu phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái. Ông Phùng Đức Tiến lưu ý, đối với thủy sản, cần giảm cường lực khai thác, giảm đội tàu, chuyển đổi nghề để vừa bảo vệ nguồn lợi vừa bảo đảm sinh kế cho ngư dân. Cùng với đó, đầu tư cho các khu bảo tồn biển, phát triển mô hình đồng quản lý, kiểm soát ô nhiễm, nước thải và rác thải nhựa, nhất là tại các khu vực ven biển và đô thị hóa nhanh.
Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhận định, bên cạnh những cơ hội, điều kiện tự nhiên thuận lợi, việc phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta cũng phải đối mặt với những thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là cách tiếp cận phát triển kinh tế biển theo hướng xanh hóa. Muốn vậy, phải khởi đầu từ tư duy, nhận thức thống nhất cho đến hành động cụ thể. Một vấn đề quan trọng khác là nguồn lực để thực hiện. VN vẫn đang là nước trên đà phát triển với GDP bình quân đầu người còn thấp, trong khi quá trình chuyển đổi sang các ngành công nghiệp xanh đòi hỏi sự đầu tư lớn.
Đây cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp và yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng ven biển. Đó là chưa kể những khó khăn khác như nguồn lao động trình độ hạn chế, tình trạng ô nhiễm môi trường biển trên diện rộng do hoạt động kinh tế và sinh hoạt phát sinh thải ra ngày càng phức tạp. Ước tính khoảng 70 - 80% lượng rác thải trên biển có nguồn gốc từ nội địa khi các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư xả nước thải, chất thải rắn không qua xử lý ra các con sông ở vùng đồng bằng ven biển hoặc xả thẳng ra biển. Trong khi đó, các hoạt động du lịch có ảnh hưởng tới 20 - 30% đến môi trường sinh thái, cảnh quan tự nhiên của biển.
Trong bối cảnh đó, theo TS Nguyễn Văn Thuật, Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính, để bảo đảm phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững, cần hướng tới phát triển một nền kinh tế biển xanh hài hòa lợi ích kinh tế từ các hoạt động kinh tế ngành, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, môi trường, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.
Để đạt mục tiêu này, cần đẩy mạnh và triển khai có hiệu quả quy hoạch không gian biển, trong đó phân tích kỹ các chức năng của từng vùng biển và hải đảo để bảo đảm khai thác hiệu quả, có lợi nhất một số chức năng quan trọng trong giới hạn, không làm ảnh hưởng tới các chức năng khác và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái, ô nhiễm môi trường, phá hủy các hệ sinh thái biển. Bên cạnh đó, xây dựng và đưa vào áp dụng sâu rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các hệ sinh thái biển.
Thực tế cho thấy, khi có sự tham gia quản lý của cộng đồng sẽ bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả tài nguyên và môi trường biển. Mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các hệ sinh thái biển đã được áp dụng thành công ở một số địa phương.
Các nghiên cứu đều cho thấy đánh bắt quá mức bằng các hình thức hủy diệt là nguyên nhân chính gây suy giảm nguồn lợi cá biển VN. Do vậy, VN cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện một cách hiệu quả các chính sách, quy định pháp luật về phát triển nghề cá bền vững, chống đánh bắt hủy diệt, đánh bắt trái phép. Cần triển khai thực hiện việc cấm biển tại các khu vực phù hợp theo thời gian và xây dựng kế hoạch chuyển đổi, bảo đảm sinh kế cho ngư dân.
TS Nguyễn Văn Thuật (Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính)