Dùng trên 903kWh/tháng hóa đơn tiền điện mới tăng?
Từ ngày 1.11, biểu giá bán lẻ điện mới theo Quyết định số 2892 của Bộ Công thương chính thức áp dụng, với hai thay đổi đáng chú ý. Đó là giá điện sinh hoạt chuyển từ 6 bậc xuống 5 bậc , trong khi giá điện sạc xe điện được phân theo khung giờ sử dụng. Thực tế, dù giá bán lẻ điện bình quân giảm 2%, hóa đơn của các hộ gia đình và chi phí sạc xe điện sẽ thay đổi tùy theo lượng điện tiêu thụ, thời điểm sử dụng và cấp điện áp.
Theo Quyết định 1279 ngày 9.5.2025, biểu giá điện sinh hoạt có 6 bậc: 0 - 50 kWh; 51 - 100 kWh; 101 - 200 kWh; 201 - 300 kWh; 301 - 400 kWh và từ 401 kWh trở lên. Quyết định 2892 của Bộ Công thương vừa ban hành chuyển điện sinh hoạt sang 5 bậc : từ 0 - 100 kWh; 101 - 200 kWh; 201 - 400 kWh; 401 - 700 kWh và từ 701 kWh trở lên. Như vậy, khoảng tiêu thụ của các bậc được nới rộng, đặc biệt ngưỡng bắt đầu áp dụng mức giá cao nhất tăng từ trên 400 kWh lên trên 700 kWh/tháng.
Bậc | Quyết định 1279 (đồng/kWh) | Quyết định 2892 (đồng/kWh) |
|---|---|---|
Bậc 1 | 0-50 kWh: 1.984 | Đến 100 kWh: 1.901 |
Bậc 2 | 51-100 kWh: 2.050 | 101-200 kWh: 2.289 |
Bậc 3 | 101-200 kWh: 2.380 | 201-400 kWh: 2.894 |
Bậc 4 | 201-300 kWh: 2.998 | 401-700 kWh: 3.456 |
Bậc 5 | 301-400 kWh: 3.350 | Từ 701 kWh: 3.844 |
Bậc 6 | Từ 401 kWh: 3.460 | Không còn |
Trong đó, quy định mới với điện sinh hoạt có mức giá cao nhất mới là 3.844 đồng/kWh, tăng 384 đồng/kWh so với mức 3.460 đồng/kWh của bậc 6 cũ. Tuy nhiên, mức giá này chỉ áp dụng cho phần sản lượng từ kWh thứ 701 trở đi, thay vì từ kWh thứ 401 như trước.
Thay đổi tương tự cũng được thể hiện trong giá bán điện cho các đơn vị bán lẻ điện nông thôn, khu tập thể, cụm dân cư và tổ hợp thương mại - dịch vụ - sinh hoạt: biểu giá sinh hoạt được chuyển từ 6 bậc sang 5 bậc , với các ngưỡng tiêu thụ mới.
Điểm đáng lưu ý là nhờ giảm giá điện bình quân, biểu giá điện sinh hoạt chuyển sang 5 bậc cũng khác so với dự tính trước đây của ngành điện. Chẳng hạn, theo tính toán từ biểu giá cũ và mới, một hộ gia đình sử dụng 200 kWh/tháng sẽ phải trả khoảng 419.000 đồng tiền điện, chưa bao gồm VAT, giảm 20.700 đồng so với mức 439.700 đồng trước đây.

Chính sách giảm giá điện bình quân cộng với giảm bậc trong biểu giá bán điện mới có thể giúp hóa đơn tiền điện hộ gia đình giảm trong mấy tháng tới
ẢNH: H.H
Đối với hộ tiêu thụ 400 kWh/tháng, tiền điện theo biểu giá mới vào khoảng 997.800 đồng, thấp hơn 76.700 đồng so với mức 1.074.500 đồng theo biểu giá cũ. Nếu sử dụng 800 kWh/tháng, hóa đơn giảm từ khoảng 2,46 triệu đồng xuống còn 2,42 triệu đồng. Chỉ với những hộ có lượng điện tiêu thụ đặc biệt lớn, mức giá mới có thể khiến hóa đơn tăng lên. Chẳng hạn, hộ sử dụng 1.000 kWh/tháng sẽ phải trả khoảng 3,188 triệu đồng, tăng 37.300 đồng so với biểu giá cũ, dù giá điện bình quân đã giảm.
Dành cho bạn
- Chân dung Đoàn Lê Anh Đức, người vô địch Đường lên đỉnh Olympia 2026
- 'Chạy đua' đưa sân bay Long Thành khai thác đúng 0 giờ 24.12
- Công an vào cuộc vụ tài xế công nghệ bị đe dọa vì vá xe miễn phí
Một số tính toán cho thấy, khách hàng dùng 903 kWh/tháng thì hóa đơn tiền điện hộ gia đình mới tăng... 52 đồng. Trước đây, EVN ước tính khách hàng tiêu thụ điện trên 778 kWh/tháng thì tiền điện phải trả sẽ tăng so với hiện hành.
Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam Nguyễn Tiến Thỏa nhận định: "Việc rút biểu giá từ 6 bậc xuống 5 bậc không đồng nghĩa với điều chỉnh tăng giá bán lẻ điện bình quân. Trong bối cảnh giá bán lẻ điện bình quân vừa được quyết định giảm 2%, việc cải tiến cơ cấu biểu giá càng có ý nghĩa đối với người tiêu dùng".
Lần đầu tiên có biểu giá riêng cho sạc xe điện
Không chỉ điện sinh hoạt, Quyết định số 2892 của Bộ Công thương còn quy định giá bán lẻ điện riêng cho hoạt động sạc xe điện, phân theo ba khung giờ: bình thường, thấp điểm và cao điểm. Đây là cơ sở để các đơn vị vận hành trạm sạc tính toán chi phí, đồng thời tạo động lực dịch chuyển nhu cầu sạc sang những thời điểm hệ thống điện ít chịu áp lực.
Theo biểu giá mới, với khách hàng sạc xe điện sử dụng điện ở cấp điện áp từ trung áp trở lên, giá giờ bình thường là 2.549 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.534 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.758 đồng/kWh. Đối với cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, các mức giá tương ứng là 2.700 đồng, 1.626 đồng và 4.212 đồng/kWh.
Như vậy, ở cấp điện áp hạ áp đến 1 kV, giá điện sạc xe vào giờ cao điểm cao gấp khoảng 2,6 lần so với giờ thấp điểm. Nếu một trạm sạc sử dụng 100 kWh điện, chi phí tiền điện theo giá giờ thấp điểm là khoảng 162.600 đồng, trong khi vào giờ cao điểm lên tới 421.200 đồng, chênh lệch 258.600 đồng, chưa bao gồm VAT.
Với cấp điện áp từ trung áp trở lên, mức chênh lệch cũng đáng kể. Cùng 100 kWh điện, chi phí sạc vào giờ thấp điểm khoảng 153.400 đồng, trong khi giờ cao điểm là 375.800 đồng, chênh nhau 222.400 đồng.
Theo quy định về khung giờ sử dụng điện, giờ thấp điểm kéo dài từ 0 - 6 giờ tất cả các ngày trong tuần. Giờ cao điểm áp dụng từ thứ hai đến thứ bảy, trong khoảng 17 giờ 30 - 22 giờ 30; riêng ngày chủ nhật không có giờ cao điểm. Các khoảng thời gian còn lại là giờ bình thường.
Với cách phân chia này, nếu sạc xe vào ban đêm, từ 0 - 6 giờ sẽ rất có lợi về chi phí điện. Ngược lại, khung giờ 17 giờ 30 - 22 giờ 30 từ thứ hai đến thứ bảy là thời điểm có giá điện cao nhất, do đây cũng là khoảng thời gian nhu cầu sử dụng điện của hệ thống tăng mạnh.
Tuy nhiên, mức giá dành riêng cho sạc xe điện không đồng nghĩa mọi chủ xe đều được tính theo biểu giá này. Giá sạc riêng áp dụng đối với hoạt động sạc xe điện theo đúng nhóm mục đích sử dụng và điều kiện áp dụng của biểu giá. Người dân sạc xe tại nhà bằng công tơ điện sinh hoạt vẫn thanh toán theo biểu giá điện sinh hoạt của hộ gia đình, không tự động được hưởng mức giá sạc xe điện thấp điểm.
Ngoài ra, biểu giá điện mới cũng tách riêng cơ sở lưu trú du lịch thành một nhóm trong phụ lục, áp dụng giá theo ba khung giờ và hai cấp điện áp, không áp dụng chung biểu giá kinh doanh như trước.