Từ mở rộng nội địa hóa đến hợp tác thực chất
Việt Nam tiếp tục là điểm đến tích cực của dòng vốn đầu tư quốc tế. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 30/9, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt hơn 21 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm qua.
Từ phía các tập đoàn lớn, nhu cầu hợp tác với doanh nghiệp (DN) Việt Nam đang được mở rộng theo hướng thực chất hơn, không chỉ dừng ở hỗ trợ tư vấn, cải tiến sản xuất mà còn hướng tới cơ hội tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng .
Ông Cha Ji Ho - Phó Tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng Samsung Việt Nam cho biết, trên cơ sở những kinh nghiệm và thành quả đã đạt được, Samsung đang chuẩn bị nhiều định hướng hợp tác nhằm tạo động lực để ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.
“Trong thời gian tới, chúng tôi mong muốn phát triển hoạt động hợp tác theo 3 định hướng: rộng hơn, sâu hơn và có hệ thống hơn” - ông Cha Ji Ho nhấn mạnh.
Theo đó, Samsung dự kiến mở rộng phạm vi hỗ trợ từ những địa bàn đang triển khai chương trình như Bắc Ninh và TPHCM sang các khu vực công nghiệp trọng điểm ở miền Bắc và miền Nam, trong đó có Phú Thọ, Hải Phòng, Thái Nguyên. Qua đó, ngày càng nhiều DN địa phương có cơ hội tiếp cận các chương trình hợp tác, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước đáp ứng yêu cầu của các nhà mua hàng lớn.
Tuy nhiên, cơ hội từ các tập đoàn lớn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với DN trong nước. Theo ông Cha Ji Ho, DN địa phương cần nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất, thu hút và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời xây dựng nền tảng tự chủ cho quá trình tăng trưởng.
“Khi 3 chủ thể này được kết nối một cách có hệ thống, các chương trình hỗ trợ sẽ không chỉ dừng lại ở hoạt động tư vấn, mà có thể dẫn tới các cơ hội hợp tác kinh doanh thực tế, sự tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái công nghiệp Việt Nam” - ông Cha Ji Ho khẳng định.
Doanh nghiệp Việt cần đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế
Không chỉ cần có cơ hội tiếp cận các tập đoàn lớn, DN Việt Nam còn phải chứng minh được năng lực để duy trì quan hệ hợp tác lâu dài. Theo ông Jackson Woo - Tổng giám đốc SGS Việt Nam, Việt Nam không nên chỉ nhìn nhận DN FDI dưới góc độ thu hút vốn đầu tư, mà cần coi đây là động lực thúc đẩy nâng cao năng lực của chuỗi cung ứng trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước tham gia mạng lưới cung ứng toàn cầu.
Theo ông Jackson Woo, yếu tố then chốt để DN Việt tham gia chuỗi cung ứng quốc tế là xây dựng được niềm tin với đối tác nước ngoài. Muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn, DN phải chứng minh khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế và tính ổn định trong sản xuất.
“Phần lớn khách hàng của chúng tôi tại Việt Nam hiện nay là các DN FDI, bao gồm những nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, thậm chí cấp 3 cho các tập đoàn lớn trên thế giới” - ông cho biết.
Thực tế này cho thấy chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia được tổ chức theo nhiều tầng nấc, với những yêu cầu riêng đối với từng nhóm nhà cung ứng. Các nhà mua hàng toàn cầu có xu hướng tiếp tục lựa chọn những DN đã chứng minh được năng lực đáp ứng tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế. Vì vậy, muốn cạnh tranh với các nhà cung ứng hiện hữu, DN Việt cần thu hẹp khoảng cách về chất lượng, quy trình quản trị và năng lực sản xuất.
Ông Jackson Woo cũng lưu ý, Việt Nam có dân số hơn 100 triệu người và thị trường tiêu dùng nội địa tương đối lớn, nhưng phát triển thị trường trong nước và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu là hai câu chuyện khác nhau. Quy mô thị trường có thể tạo lợi thế về nhu cầu, song không thể thay thế yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn khi doanh nghiệp muốn cung ứng cho các đối tác quốc tế.
Do đó, bên cạnh thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong nước, cần hỗ trợ các nhà cung ứng Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế thông qua việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng niềm tin. Khi các mối liên kết được hình thành, bài toán tiếp theo là nâng cao thực chất năng lực của DN nội địa, giúp họ đủ sức đảm nhận những mắt xích quan trọng hơn trong chuỗi giá trị.
Từ góc độ quản lý nhà nước, bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI đang đặt ra những yêu cầu mới. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hình tư duy thu hút đầu tư theo hướng sử dụng dòng vốn FDI làm đòn bẩy nâng cao năng suất, trình độ công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Sự thay đổi này đang từng bước được cụ thể hóa trong định hướng xây dựng chính sách. Theo đại diện Bộ Tài chính, cơ quan quản lý đang chuyển từ tư duy thu hút từng dự án riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái đầu tư, trong đó tăng cường mối liên kết giữa DN FDI với khu vực kinh tế trong nước.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư chuẩn bị trình Quốc hội sẽ hoàn thiện các tiêu chí cấp ưu đãi. Theo định hướng được chia sẻ, chính sách hỗ trợ tập trung vào các dự án ứng dụng công nghệ hiện đại, có cam kết chuyển giao tri thức, bảo vệ môi trường và tăng cường liên kết với doanh nghiệp nội địa.
“Mức độ ưu đãi sẽ gắn liền với kết quả thực hiện các cam kết. Cơ quan quản lý sẽ tăng cường giám sát thực tế để bảo đảm hiệu quả ưu đãi đúng mục tiêu” - bà Thủy cho biết.
Định hướng này cho thấy chất lượng dòng vốn và hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế ngày càng được đặt lên hàng đầu. Thay vì chỉ quan tâm đến quy mô vốn đăng ký, diện tích dự án hay các ưu đãi dành cho nhà đầu tư, chính sách cần hướng tới những giá trị lâu dài như chuyển giao công nghệ , phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực của DN Việt Nam.