Theo thống kê, tính đến cuối quý 2/2026, dư nợ cho vay (bao gồm margin và ứng trước tiền bán) tại các công ty chứng khoán ước tính vào khoảng 445.000 tỷ đồng, tăng khoảng 30.000 tỷ so với cuối quý 1 trước đó và là mức cao kỷ lục từ trước đến nay.
Trong đó, dư nợ cho vay ký quỹ (margin ) ước tính khoảng 435.000 tỷ đồng vào cuối quý 2, tăng 30.000 tỷ chỉ sau 1 quý và cũng là con số cao nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam.
Tính đến cuối quý 2, toàn thị trường ghi nhận 16 CTCK có dư nợ cho vay trên 10.000 tỷ đồng, trong đó 5 cái tên là TCBS, SSI, VPBankS, VPS và HSC là những CTCK có dư nợ trên 1 tỷ USD. TCBS tiếp tục là là CTCK có dư nợ cho vay lớn nhất toàn ngành với giá trị lên đến hơn 51.500 tỷ đồng, tăng gần 7.000 tỷ so với quý trước.
Hầu hết các CTCK top đầu đều lập kỷ lục về dư nợ cho vay . Trong đó, các CTCK có dư nợ tăng mạnh trong quý 2 đa phần đều có ngân hàng hậu thuẫn, có thể kể đến như TCBS, VPBankS, LPBankS, HDS, MBS, SHS… Ngoài ra, SSI là cái tên hiếm hoi không có ngân hàng đứng sau vẫn có dư nợ cho vay tăng mạnh hơn 3.500 tỷ so với cuối quý 1.
Ngược lại, một số CTCK có dấu hiệu chững lại trong hoạt động cho vay . Trong đó, bộ đôi CTCK có vốn ngoại là Mirae Asset và KIS VN ghi nhận dư nợ giảm so với cuối quý 1. Đây là những cái tên hụt hơi trong cuộc đua tăng vốn của ngành chứng khoán thời gian qua. Khả năng tăng vốn cũng là yếu tố cạnh tranh nổi bật của các công ty chứng khoán nội có ngân hàng đứng sau.
Dư nợ cho vay toàn thị trường tăng đáng kể phần nào phản ánh mức độ sử dụng đòn bẩy mạnh dạn hơn của nhà đầu tư trong quý 2 khi thị trường biến động dữ dội. VN-Index có thời điểm vượt đỉnh lịch sử trên 1.927 điểm trước khi quay đầu điều chỉnh. Tuy nhiên, thanh khoản thị trường lại sụt giảm so với giai đoạn đầu năm.
Thực trạng này cho thấy một phần dư nợ cho vay từ các CTCK không đi vào giao dịch, hay nói cách khác là không đến từ nhu cầu đòn bẩy của nhà đầu tư cá nhân. Thay vào đó, dư nợ tăng do các deal cho vay doanh nghiệp, lãnh đạo trong bối cảnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng không dễ dàng tiếp cận. Điều này được thể hiện rõ khi các CTCK có ngân hàng hậu thuẫn ghi nhận dư nợ tăng mạnh.
Bên cạnh đó, từ cuối năm ngoái, lãi suất huy động và cho vay đã có dấu hiệu tăng trở lại do thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Mặt bằng lãi vay margin tại các CTCK cũng theo đó lên khoảng 13–14%/năm. Điều này làm hạn chế phần nào nhu cầu đòn bẩy của nhà đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động khó lường.
Nhìn chung, khi thị trường có xu hướng tích cực, margin sẽ khuếch đại lợi nhuận và góp phần nâng cao thanh khoản. ở chiều ngược lại, nếu thị trường xuất hiện những nhịp điều chỉnh mạnh hoặc kéo dài, áp lực gọi ký quỹ (margin call) và bán giải chấp có thể khiến biến động giá trở nên dữ dội hơn.
Vì vậy, điều đáng quan tâm không chỉ là quy mô dư nợ 445.000 tỷ đồng, mà còn là khả năng kiểm soát rủi ro của các CTCK, chất lượng tài sản đảm bảo và mức độ tập trung dư nợ vào từng nhóm cổ phiếu, bởi đây mới là những yếu tố quyết định mức độ an toàn của hệ thống trong các giai đoạn thị trường biến động mạnh.