Thị Trường Hàng Hóa

Từ khát vọng đến hiện thực: Vì sao Việt Nam chưa có nhiều Tập đoàn kinh tế tư nhân tầm khu vực và toàn cầu?

Từ khát vọng đến hiện thực: Vì sao Việt Nam chưa có nhiều Tập đoàn kinh tế tư nhân tầm khu vực và toàn cầu? - Ảnh 1

Bước vào kỷ nguyên mới, kinh tế nước ta đang đứng trước yêu cầu duy trì tốc độ và nâng cao chất lượng tăng trưởng, đẩy mạnh năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Những đổi mới quan trọng trong tư duy phát triển, đặc biệt việc xác định rõ hơn vai trò của kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cùng với cải cách thể chế và tổ chức lại không gian phát triển đang mở ra những cơ hội mới cho khu vực doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, để trở thành quốc gia phát triển, nền kinh tế không chỉ cần nhiều doanh nghiệp hơn mà cần những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản trị hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.

Vì sao sau bốn thập kỷ đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ về số lượng nhưng số doanh nghiệp có khả năng trở thành các tập đoàn kinh tế tầm cỡ khu vực và thế giới vẫn còn hạn chế? Câu trả lời không chỉ nằm ở năng lực của doanh nghiệp, mà còn liên quan đến chi phí để doanh nghiệp lớn lên, đến môi trường thể chế và hệ sinh thái phát triển chưa tạo đủ điều kiện để doanh nghiệp tích lũy, đổi mới sáng tạo và vươn lên.

Muốn có những tập đoàn mang thương hiệu quốc gia, Việt Nam cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn đang cản trở quá trình lớn lên của doanh nghiệp. Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân không chỉ phụ thuộc vào ý chí kinh doanh, mà còn phụ thuộc vào năng lực nội tại của doanh nghiệp và chất lượng của môi trường thể chế, hệ sinh thái phát triển.

Vì sao doanh nghiệp chưa muốn mở rộng quy mô?

Doanh nghiệp trong nước không thiếu khát vọng lớn lên, nhưng để trở thành doanh nghiệp lớn, họ cần môi trường để khi mở rộng quy mô, đầu tư dài hạn và đổi mới sáng tạo trở thành lựa chọn có hiệu quả hơn.

Một nghịch lý đáng chú ý của nền kinh tế nước ta hiện nay là trong khi kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của phát triển, không ít doanh nghiệp vẫn lựa chọn phát triển thận trọng thay vì mở rộng quy mô.

Thực trạng này không phải doanh nghiệp thiếu ý chí vươn lên. Câu chuyện nằm ở vấn đề chi phí, rủi ro và năng lực cần thiết để trở thành doanh nghiệp lớn.

Đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, mở rộng quy mô đồng nghĩa với yêu cầu thay đổi toàn diện từ quản trị, tài chính, nhân lực đến công nghệ và thị trường. Khi doanh nghiệp bước sang một quy mô mới, phương thức quản lý dựa nhiều vào kinh nghiệm cá nhân không còn phù hợp, thay vào đó cần hệ thống quản trị chuyên nghiệp và chiến lược phát triển dài hạn.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là chi phí để mở rộng quy mô còn cao. Đó là chi phí vốn, chi phí tiếp cận công nghệ, chi phí xây dựng năng lực quản trị, chi phí tuân thủ và chi phí tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Quy mô vốn nhỏ khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư cho những lĩnh vực cần nguồn lực lớn, thời gian dài như nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu hay mở rộng thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia đình, thiếu hệ thống quản trị hiện đại về tài chính, nhân sự, quản trị rủi ro và hoạch định chiến lược.

Một điểm nghẽn quan trọng khác là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp. Trong khi các tập đoàn hàng đầu thế giới cạnh tranh bằng công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn tập trung chủ yếu vào hoạt động kinh doanh trước mắt, chưa dành đủ nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và công nghệ mới.

Hệ quả là khả năng làm chủ công nghệ chưa cao. Nhiều doanh nghiệp vẫn tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, trong khi số doanh nghiệp có khả năng sở hữu công nghệ lõi, phát triển sản phẩm mang thương hiệu riêng còn hạn chế.

Ngoài ra, liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI còn rất rời rạc, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa đủ mạnh.

Vì vậy, vấn đề không phải doanh nghiệp trong nước không muốn lớn, mà là cần giảm "chi phí để lớn lên" và tạo ra một môi trường đủ thuận lợi để doanh nghiệp tự tin đầu tư dài hạn, đổi mới sáng tạo, mở rộng quy mô.

Rào cản từ thể chế và hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp

Nền kinh tế sẽ không thể có nhiều tập đoàn mạnh nếu chỉ có nhiều doanh nghiệp nhỏ và cộng đồng doanh nghiệp không muốn mở rộng quy mô. Muốn doanh nghiệp lớn lên, cần phải kiến tạo một hệ sinh thái giúp doanh nghiệp tích lũy vốn, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bởi vì phát triển của doanh nghiệp không chỉ dựa vào nỗ lực nội tại mà còn phụ thuộc vào môi trường thể chế và hệ sinh thái xung quanh.

Một vấn đề đáng chú ý là cơ cấu doanh nghiệp của nền kinh tế chưa thực sự tạo nền tảng cho quá trình hình thành các tập đoàn công nghiệp, công nghệ có năng lực dẫn dắt. Phần lớn doanh nghiệp hiện nay tập trung trong khu vực dịch vụ, thương mại, bán lẻ và các ngành có vòng quay vốn nhanh, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cuối cùng. Trong khi đó, số doanh nghiệp trong công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao còn rất hạn chế.

Điều này phản ánh một thực tế nền kinh tế đã có sự phát triển mạnh về số lượng doanh nghiệp nhưng chưa tạo được sự chuyển dịch tương xứng về chất lượng, năng lực công nghệ và năng suất.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ vẫn chưa hình thành mạng lưới đủ mạnh để biến tri thức thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh.

Khả năng lan tỏa từ khu vực FDI sang doanh nghiệp trong nước cũng chưa đạt kỳ vọng. Chúng ta đã thành công trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng việc hình thành mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực công nghệ trong nước vẫn là bài toán cần tiếp tục giải quyết.

Muốn có những tập đoàn kinh tế Việt Nam vươn ra toàn cầu, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ doanh nghiệp tồn tại sang tư duy kiến tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển và dẫn dắt.

Bài học quốc tế: Kiến tạo hệ sinh thái để doanh nghiệp lớn lên

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các tập đoàn kinh tế lớn được tạo ra không chỉ bằng nỗ lực của doanh nghiệp, mà là kết quả của một hệ sinh thái phát triển được kiến tạo trong nhiều thập kỷ.

Câu chuyện của các nền kinh tế thành công cho thấy, không có quốc gia nào trở thành nền kinh tế phát triển mà thiếu những doanh nghiệp tư nhân mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, các tập đoàn lớn không tự nhiên xuất hiện. Đằng sau sự phát triển của những doanh nghiệp như Samsung, Hyundai của Hàn Quốc, Toyota của Nhật Bản hay các tập đoàn công nghệ hàng đầu của Trung Quốc là quá trình kiến tạo dài hạn của cả Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và thị trường.

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã xây dựng thành công mô hình phát triển công nghiệp dựa trên sự kết hợp giữa chiến lược quốc gia, năng lực công nghệ, hệ thống đào tạo nhân lực và sự phát triển của các tập đoàn công nghiệp lớn.

Hàn Quốc cũng cho thấy vai trò của một chiến lược công nghiệp nhất quán. Thông qua việc lựa chọn các ngành ưu tiên, đầu tư mạnh cho giáo dục, khoa học công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế, Hàn Quốc đã hình thành các tập đoàn có sức cạnh tranh toàn cầu.

Singapore dù có quy mô thị trường nhỏ nhưng đã xây dựng được hệ sinh thái kinh doanh hiện đại, kết nối chặt chẽ giữa chính sách nhà nước, vốn đầu tư, đổi mới sáng tạo và mạng lưới doanh nghiệp quốc tế.

Trong các kinh nghiệm quốc tế, phương thức Trung Quốc xây dựng năng lực công nghiệp và công nghệ mang lại nhiều bài học đáng tham khảo đối với Việt Nam.

Điểm đáng chú ý trong chiến lược của Trung Quốc không chỉ là việc phát triển các doanh nghiệp lớn, mà là cách họ xây dựng một hệ sinh thái bốn tầng dưới đây, liên kết chặt chẽ từ định hướng quốc gia đến doanh nghiệp.

Tầng định hướng chiến lược quốc gia . Thông qua các chương trình như "Made in China 2015 và Made in China 2025", Trung Quốc xác định rõ những lĩnh vực công nghiệp, công nghệ then chốt cần ưu tiên phát triển như sản xuất thông minh, robot, bán dẫn, phương tiện năng lượng mới, công nghệ sinh học và các ngành công nghệ cao. Cùng với đó là cam kết đầu tư rất lớn của Chính phủ cho nghiên cứu và phát triển.

Tạo dựng hạ tầng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo . Đối với tầng thứ hai này, Trung Quốc từng bước tái cấu trúc hệ thống nghiên cứu theo hướng gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia được tái cấu trúc, từ mô hình "công bố nhiều bài báo khoa học" sang mô hình "giải quyết bài toán thực tế của doanh nghiệp.

Việc xây dựng năng lực nghiên cứu, các phòng thí nghiệm ngay trong các doanh nghiệp lớn như Huawei, ZTE, CATL hay các tập đoàn công nghệ khác đã rút ngắn đáng kể khoảng cách từ ý tưởng đến sản phẩm thương mại.

Hệ sinh thái doanh nghiệp và các khu phát triển công nghệ cao . Các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp khởi nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các quỹ đầu tư được kết nối trong cùng một không gian phát triển, tạo điều kiện để công nghệ, vốn và nhân lực được luân chuyển nhanh chóng và sử dụng hiệu quả.

Phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật quy mô lớn . Trung Quốc đầu tư mạnh cho giáo dục STEM, đào tạo hàng triệu kĩ sư, nhà khoa học, nhân lực kỹ thuật phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Điểm đáng chú ý trong quá trình phát triển của Trung Quốc là sự hình thành và lớn mạnh của các tập đoàn kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực công nghệ và mở rộng ảnh hưởng kinh tế của quốc gia này.

Từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động và sản xuất quy mô lớn, Trung Quốc đã từng bước hình thành một thế hệ doanh nghiệp tư nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu trong nhiều lĩnh vực từ thương mại điện tử, công nghệ số, viễn thông, sản xuất công nghiệp, xe điện, năng lượng mới đến trí tuệ nhân tạo.

Các tập đoàn tư nhân như Alibaba Group, Tencent, Huawei, BYD Company không chỉ tạo ra giá trị kinh tế lớn trong nước mà còn trở thành những chủ thể quan trọng trong quá trình Trung Quốc tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

Vai trò của các tập đoàn này không chỉ nằm ở quy mô doanh thu hay số lượng việc làm tạo ra, quan trọng hơn là khả năng hình thành năng lực công nghệ, xây dựng chuỗi cung ứng, phát triển thương hiệu quốc tế và tạo ra những ngành công nghiệp mới.

Sự phát triển của các tập đoàn tư nhân Trung Quốc cho thấy doanh nghiệp lớn không chỉ là kết quả của phát triển kinh tế, mà trở thành công cụ quan trọng nhất nâng cao sức mạnh kinh tế quốc gia.

Tuy nhiên, quá trình này không diễn ra một cách tự nhiên. Đằng sau sự lớn mạnh của các tập đoàn tư nhân Trung Quốc là một quá trình dài hạn trong việc xây dựng thị trường, phát triển hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân lực, mở rộng khả năng tiếp cận vốn và tạo lập môi trường để doanh nghiệp cạnh tranh, tích lũy và vươn lên.

Đây cũng là nội dung Việt Nam cần tập trung nghiên cứu sâu. Muốn có những doanh nghiệp tư nhân tầm khu vực và toàn cầu, không chỉ kỳ vọng vào sự trưởng thành tự nhiên của doanh nghiệp, Nhà nước cần chủ động kiến tạo những điều kiện để doanh nghiệp trong nước có thể tích lũy năng lực và phát triển thành lực lượng dẫn dắt nền kinh tế. Việt Nam cần chuyển từ tư duy có nhiều doanh nghiệp sang tư duy tạo ra nhiều doanh nghiệp dẫn dắt.

Tuy nhiên bài học quan trọng nhất đối với Việt Nam không nằm ở việc sao chép nguyên mô hình của bất kỳ quốc gia nào. Bởi mỗi nền kinh tế có điều kiện lịch sử, thể chế và nguồn lực khác nhau.

Điều Việt Nam cần là kiến tạo một hệ sinh thái phát triển có chủ đích , trong đó chiến lược quốc gia, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, thị trường vốn, chính sách công nghiệp và phát triển doanh nghiệp được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất. Chỉ khi đó, doanh nghiệp trong nước mới có điều kiện chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Sau bốn thập kỷ đổi mới, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển quan trọng, trở thành một động lực lớn của nền kinh tế. Nhưng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đòi hỏi phải có bước chuyển lớn hơn từ phát triển số lượng sang nâng cao năng lực doanh nghiệp; từ tham gia thị trường sang làm chủ các chuỗi giá trị.

Muốn có các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm khu vực và toàn cầu, Việt Nam cần nhìn nhận đây là bài toán về năng lực cạnh tranh quốc gia. Doanh nghiệp cần tự đổi mới, nâng cao kỹ năng quản trị, đầu tư công nghệ và xây dựng khát vọng vươn lên. Nhưng Nhà nước cần kiến tạo một hệ sinh thái để doanh nghiệp có điều kiện lớn lên.

Nếu 40 năm đổi mới vừa qua là hành trình mở cửa, hội nhập và thu hút nguồn lực quốc tế để phát triển, bước vào kỷ nguyên mới phải là hành trình kiến tạo năng lực nội sinh, trong đó sự lớn mạnh của doanh nghiệp trong nước phải trở thành trụ cột quan trọng của sức mạnh kinh tế quốc gia./.


person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!