Tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Hành trình bứt phá kỳ tích

Năm 2026 bước vào lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam, bức tranh kinh tế vĩ mô không còn chỉ được đo đếm bằng những con số tăng trưởng đơn thuần, mà ghi nhận sự chuyển dịch về chất khi Việt Nam chính thức bước lên nấc thang mới: nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao . Nhìn lại chặng đường kéo dài suốt 4 thập kỷ qua, đây được coi là "quả ngọt" của một quá trình tích lũy nội lực bền bỉ, kiên trì đổi mới và chủ động hội nhập sâu rộng.

Tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - Ảnh 1

Việt Nam đang vươn ra toàn cầu với khát vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045

Ảnh: S.G

Theo The Borgen Project, tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đã giúp hàng triệu người thoát nghèo trong nhiều thập niên qua. Khi thu nhập hộ gia đình tăng lên và tầng lớp trung lưu của đất nước mở rộng, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tiếp tục tăng. Việt Nam đã giảm tỷ lệ dân số sống trong hoàn cảnh khó khăn từ hơn 70% vào đầu những năm 1990 xuống còn dưới 1% trong những năm gần đây. Đây là thành tựu được công nhận rộng rãi là một trong những "kỳ tích phát triển" của thế giới.

Không quá lời khi The Borgen Project gọi hành trình phát triển kinh tế của Việt Nam là kỳ tích. Ngược dòng thời gian về những năm 1980, Việt Nam khi ấy còn nằm trong nhóm những quốc gia nghèo nhất thế giới với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ quanh quẩn mốc vài chục đến dưới 100 USD/năm. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới hơn 70% dân số, lạm phát có thời điểm lên tới 3 chữ số, hàng hóa tiêu dùng thiếu hụt nghiêm trọng và an ninh lương thực luôn là nỗi lo thường trực đối với từng gia đình.

Công cuộc Đổi mới khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã mở ra cánh cửa giải phóng sức sản xuất. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng quyết sách mở cửa hội nhập đã tạo ra làn gió mới. Bước sang thập niên 1990, kinh tế Việt Nam bắt đầu tăng tốc rõ rệt. Năm 1995, khi Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và gia nhập ASEAN, GDP bình quân đầu người đã đạt khoảng 280 USD. Sự bứt phá về sản xuất nông nghiệp không chỉ giúp đất nước xóa bỏ nạn đói mà còn nhanh chóng vươn lên thành quốc gia xuất khẩu gạo cùng nông sản hàng đầu thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho việc ổn định xã hội và tích lũy vốn phục vụ công nghiệp hóa.

Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam tăng tốc mạnh mẽ mà đỉnh cao là việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007. Làn sóng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ồ ạt đổ vào Việt Nam, biến đất nước thành một trung tâm sản xuất mới của khu vực. Nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức cao, chỉ 1 năm sau, Việt Nam đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 1.150 USD. Theo chuẩn phân loại của World Bank, cột mốc này chính thức đưa Việt Nam vượt qua ngưỡng nước nghèo để gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

Đến năm 2026, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã vượt mốc 5.000 USD

Ảnh: NGỌC THẮNG

Trong giai đoạn 2011 - 2020, bất chấp những biến động dữ dội của kinh tế toàn cầu, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam liên tục được cải thiện: từ mức xấp xỉ 1.950 USD năm 2011 lên hơn 3.550 USD vào năm 2020. Dù đối mặt với đại dịch Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, chúng ta vẫn kiên cường giữ vững đà tăng trưởng dương và nhanh chóng phục hồi mạnh mẽ.

Đến giai đoạn 2021 - 2025, với chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt cùng hàng loạt chiến lược phát triển hạ tầng quy mô lớn, GDP bình quân đầu người bước sang năm 2025 đã tiến sát cột mốc cận trên của nhóm thu nhập trung bình thấp (đạt khoảng 4.700 - 4.900 USD/người/năm).

Năm 2026, nhờ sự tổng hòa của các yếu tố: xuất khẩu duy trì thặng dư kỷ lục, thu hút FDI chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và kinh tế xanh, cùng sự phục hồi nội địa vững chắc, Việt Nam đã chính thức bước qua ngưỡng phân loại của World Bank để ghi danh vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao .

Gầy dựng thế và lực mới

TSKH Trần Quang Thắng , Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TP.HCM, nhận định: Bước lên nấc thang thu nhập trung bình cao giúp củng cố mạnh mẽ độ tin cậy quốc gia của Việt Nam. Điều này tác động trực tiếp đến xếp hạng tín nhiệm quốc gia từ các tổ chức quốc tế lớn như Moody's, S&P hay Fitch Ratings, qua đó giúp làm giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế cho cả Chính phủ lẫn cộng đồng doanh nghiệp nội địa.

Quan trọng hơn, thế và lực mới giúp Việt Nam nâng cấp chiều sâu quan hệ đối ngoại. Mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc hàng đầu thế giới không còn dừng lại ở những cam kết ngoại giao mang tính nguyên tắc, mà đã nhanh chóng chuyển hóa thành các chương trình hợp tác kinh tế, công nghệ có hàm lượng trí tuệ cao. Việt Nam không còn là điểm đến của những dòng vốn FDI gia công, lắp ráp chi phí thấp hay khai thác tài nguyên thô. Trái lại, thế và lực mới biến Việt Nam thành trung tâm thu hút vốn đầu tư chất lượng cao trong các ngành công nghiệp mũi nhọn tương lai như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng sạch và trung tâm tài chính khu vực.

Theo ông Trần Quang Thắng, trong hơn 2 thập kỷ hội nhập ban đầu, Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với tâm thế của một nền kinh tế đang chuyển đổi, phải đàm phán kèm theo nhiều điều khoản ngoại lệ hoặc lộ trình chuyển tiếp gia hạn. Tuy nhiên, khi đạt mức thu nhập trung bình cao , vị thế trên bàn đàm phán quốc tế đã hoàn toàn thay đổi. Việt Nam hiện nắm giữ lợi thế của một thị trường hơn 100 triệu dân với tầng lớp trung lưu bùng nổ, có sức mua ngày càng lớn và là cửa ngõ kết nối chiến lược của ASEAN. Lợi thế này cho phép chúng ta chủ động đưa ra các yêu cầu, bảo vệ lợi ích cốt lõi của doanh nghiệp nội địa và tham gia xây dựng các chuẩn mực thương mại mới, đặc biệt trong các lĩnh vực mới nổi như: thương mại kỹ thuật số, quản trị dữ liệu xuyên biên giới, chuyển dịch kinh tế xanh, chuỗi cung ứng bền vững…

Đáng chú ý, về ngoại giao, nếu như trước đây chúng ta chủ yếu là "hội nhập để tồn tại", tìm kiếm sự công nhận và hỗ trợ quốc tế thì ngày nay, Việt Nam là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế và từng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như APEC 2017, P4G 2025…

"Đường lối đối ngoại "đa phương hóa, đa dạng hóa" giúp Việt Nam trở thành một quốc gia có tiếng nói trong các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, an ninh mạng, phát triển bền vững. Ngay cả về quốc phòng và an ninh, Quân đội nhân dân Việt Nam với vai trò ngày càng hoàn thiện, không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn tham gia gìn giữ hòa bình trong khuôn khổ của LHQ, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, tổ chức triển lãm thành tựu quân sự để khẳng định năng lực và vị thế. Thực tế, Việt Nam đã chuyển mình từ một quốc gia đang phát triển sang một quốc gia có vai trò trung tâm tại Đông Nam Á và đang vươn ra toàn cầu với khát vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045. Đó là một hành trình không chỉ của tăng trưởng mà còn của bản lĩnh và tầm nhìn", TSKH Trần Quang Thắng nhấn mạnh.

Dành cho bạn

  • Đề nghị 4 tỉnh miền Trung ứng phó mưa lớn dồn dập
  • Hai người đàn ông cầm kiếm cố thủ trên mái nhà, công an vây bắt
  • VNeID xuất hiện xe lạ hoặc thiếu xe, người dân cần làm gì? CSGT TP.HCM hướng dẫn

Nhìn lại những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong những năm qua, TS Nguyễn Việt Hùng, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, khẳng định: Đây là một hành trình đáng kinh ngạc. Bởi dù đã giành độc lập được 80 năm nhưng thực tế, sau 1945, đất nước ta còn phải trải qua 30 năm chiến tranh. Sau thống nhất năm 1975, lại tiếp tục đương đầu với các thế lực phản động trong khu vực, rồi 2 cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới. Song song đó, chúng ta còn bị bao vây, cấm vận, cô lập về mọi mặt. Chưa kể 10 năm sau hòa bình, Việt Nam tiếp tục bị chìm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Phải tới năm 1991, Việt Nam mới chính thức có lại cương lĩnh xây dựng đất nước và lần đầu tiên khẳng định 6 đặc trưng và 7 phương hướng cơ bản đi lên chủ nghĩa xã hội.

"Cột mốc này cho thấy không chỉ ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, của Đảng Cộng sản VN mà còn là sự sáng tạo phi thường bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh của người Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mặt kinh tế, trở thành nền kinh tế năng động bậc nhất khu vực châu Á và cả thế giới. Chúng ta đã hình thành nền kinh tế công nghiệp dịch vụ và nông nghiệp ngày càng hiện đại, cân đối và phát triển. Chúng ta bước đầu có những mô hình phát triển gắn với công nghiệp hiện đại và không còn xa lạ, đang tiến bước mạnh mẽ với tốc độ thần tốc trong quá trình chuyển đổi số của nhân loại", TS Nguyễn Việt Hùng nhận định.

Thu nhập người Việt tăng cao cùng sự phát triển kinh tế của đất nước

ẢNH: NHẬT THỊNH

Tiếp thêm niềm tin và động lực bứt phá

PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, nhận xét: Đến năm 2026, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã vượt mốc 5.000 USD, còn chỉ số GNI (thu nhập quốc dân) bình quân đầu người đạt khoảng 4.800 USD. Mục tiêu vào ngưỡng của nhóm các nước có thu nhập trung bình cao trước đây chúng ta đặt ra cho tận năm 2030, như vậy đã "về đích" sớm tới 4 năm. Việc đạt được mốc này sớm hơn dự kiến là minh chứng rõ ràng cho thấy chất lượng cuộc sống, mức sống và thu nhập của người dân đã thực sự nâng lên một tầm cao mới.

Cũng theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, sự bứt phá của năm 2026 bắt nguồn từ đà khôi phục và tăng trưởng ấn tượng trước đó. Những thành quả trên mang lại một ý nghĩa tinh thần đặc biệt: tiếp thêm niềm tin rất lớn cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Nó khẳng định con đường chúng ta đang đi, những chiến lược, giải pháp mà chúng ta triển khai là hoàn toàn đúng hướng. Niềm tin ấy chính là động lực để toàn xã hội tiếp tục đưa các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV cũng như các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị đi vào thực tiễn cuộc sống.

Việt Nam đã gầy dựng được thế và lực, đủ tự tin, bản lĩnh bước vào kỷ nguyên mới phát triển vượt bậc

ẢNH: NGÔ TRẦN HẢI AN

"Sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị chính là chìa khóa tạo nên sức mạnh tổng hợp. Quốc hội đã kề vai sát cánh, kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật; Chính phủ thể hiện một quyết tâm hành động vô cùng lớn, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt cùng sự vào cuộc đồng bộ của các địa phương. Sự hiệp lực này đã biến những mục tiêu tưởng chừng rất thách thức trở thành những thành quả có thể cầm nắm được. Mốc lịch sử 2026 chính là bằng chứng sinh động nhất: Khi quyết tâm chính trị đủ lớn, chính sách ban hành kịp thời và toàn dân đồng lòng, Việt Nam hoàn toàn có đủ bản lĩnh để vượt qua sóng gió, tự tin tiến nhanh trên con đường trở thành cường quốc, sánh vai với các cường quốc năm châu", chuyên gia này nhấn mạnh.

TSKH Trần Quang Thắng cũng cho rằng sự kiên định của lãnh đạo tạo ra các động lực lớn cho cả đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng. Đó là khát vọng dân tộc tạo tinh thần vươn lên, không chấp nhận tụt hậu. Niềm tin vào sự phát triển giúp thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, đổi mới sáng tạo. Niềm tin vào hành động thúc đẩy cải cách mạnh hơn, cạnh tranh lành mạnh hơn. Đồng thuận xã hội dẫn đến việc huy động tối đa nguồn lực cho mục tiêu chung. Khi 4 yếu tố này thật sự hội tụ, mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển bền vững, trở thành nước thu nhập cao không còn là khẩu hiệu, mà trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ của cả dân tộc.

Khi bước vào nhóm nước thu nhập trung bình cao , vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng tầm rõ rệt. Các nhà đầu tư nước ngoài nhìn nhận chúng ta là một quốc gia đầy triển vọng, từ đó khuyến khích, thu hút thêm các dòng vốn đầu tư quốc tế. Mức thu nhập và chi tiêu của người dân gia tăng cũng chính là động lực thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vững chắc để chúng ta tiếp tục phấn đấu hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

PGS-TS Trần Hoàng Ngân

Việt Nam đã chứng minh được chính sách đối ngoại hết sức độc lập, tự chủ nhưng mềm dẻo, uyển chuyển - chính sách ngoại giao cây tre. Không những là bạn mà còn là thành viên tích cực có trách nhiệm của cộng đồng thế giới, có những can dự một cách tích cực trong sự phát triển ổn định của khu vực và thế giới. Thành tựu về kinh tế - xã hội cùng thành tựu về mặt ngoại giao đã trở thành nhân tố phát triển sức mạnh Việt Nam, bao gồm cả sức mạnh mềm và sức mạnh cứng. Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra một uy tín, vị thế của Việt Nam hôm nay.

TS Nguyễn Việt Hùng

Tương lai được kiến tạo từ niềm tin, hành động và khát vọng. Với vị thế hiện tại, với nguồn lực đang chuyển hóa mạnh mẽ, Việt Nam hoàn toàn có thể và sẽ bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế của một quốc gia phát triển, tự tin và đầy bản lĩnh.

TSKH Trần Quang Thắng

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!