Vốn FDI tăng kỷ lục

Luxembourg , Hồng Kông tăng tốc đầu tư vào Việt Nam

Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính ) chỉ ra sau 10 tháng năm nay, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 54,85 tỉ USD, tăng 74% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn FDI đầu tư vào Việt Nam cao nhất trong vòng 17 năm qua theo cùng kỳ, kể từ năm 2009. Điều này tiếp tục khẳng định Việt Nam vẫn là điểm thu hút vốn đầu tư nước ngoài nổi trội trong khu vực ASEAN bất chấp tình hình toàn cầu đã có nhiều biến động.

Trong đó, vốn đăng ký cấp mới chiếm tỷ trọng lớn nhất khi cả nước có 3.478 dự án được cấp phép với số vốn đạt 30,73 tỉ USD. So với cùng kỳ năm trước, số dự án tăng 4,7% và số vốn gấp 2,2 lần. Số dự án tăng nhẹ trong khi số vốn tăng mạnh cho thấy quy mô bình quân mỗi dự án được nâng lên đáng kể. Đáng chú ý, chỉ tính riêng dòng vốn mới đăng ký trong năm nay thì bên cạnh các nhà đầu tư quen thuộc như Singapore, Hàn Quốc…, có 2 gương mặt mới là Luxembourg đạt 4,99 tỉ USD và đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) đạt 3,57 tỉ USD. Không chỉ vươn lên thành những nhà đầu tư lớn, các dự án được rót vốn của những gương mặt mới cũng cực kỳ ấn tượng. Đó là dòng vốn Luxembourg hiện diện thông qua liên danh đầu tư giữa Terminal Investment Limited Holding S.A. cùng Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Công ty cổ phần Cảng Sài Gòn để thực hiện Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ tại TP.HCM. Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có tổng vốn khoảng 4,9 tỉ USD được xem là nhóm dự án lớn nhất được cấp phép tại TP.HCM trong năm nay.

Vốn FDI tăng kỷ lục - Ảnh 1

Dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Trong ảnh là Khu công nghệ cao TP.HCM

ẢNH: ĐỘC LẬP

Gần nhất ngày 12.10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn và Bộ trưởng Bộ Tài chính Luxembourg Gilles Roth cũng đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tài chính hai nước với nhiều nội dung hợp tác quan trọng. Đặc biệt, hai bên định hướng hợp tác thời gian tới sẽ thúc đẩy kết nối trong lĩnh vực thị trường vốn, khuyến khích các quỹ đầu tư và định chế tài chính Luxembourg quan tâm, gia tăng đầu tư dài hạn tại Việt Nam. Còn với Hồng Kông, dòng vốn đăng ký mới từ đầu năm đến nay đứng thứ 4 với 3,57 tỉ USD, nhưng nếu tính chung cả vốn tăng thêm thì vươn lên đứng thứ 3 với tổng vốn đạt hơn 6,75 tỉ USD, chỉ sau Singapore và Hàn Quốc.

Dòng vốn FDI từ nhiều nền kinh tế vào VN tăng cao. Trong ảnh là phối cảnh Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (TP.HCM) có dòng vốn FDI từ Luxembourg tham gia

ẢNH: TL

TS Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược, nhận định việc vốn FDI đăng ký và giải ngân cùng tăng mạnh cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang nhìn thấy những động lực tăng trưởng, cơ hội đầu tư cũng như định hướng phát triển dài hạn của Việt Nam. Để lý giải xu hướng này, cần nhìn vào cơ cấu ngành nghề và quốc gia đầu tư, qua đó xác định dòng vốn đang tập trung vào những lĩnh vực nào, có phù hợp với định hướng thu hút FDI của VN hay không.

"Quan sát cho thấy, Luxembourg nổi lên nhà đầu tư mới sau những cái tên thuộc top 5 đầu tư vào Việt Nam như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông… 3 dự án mới của Luxembourg đã đạt gần 5 tỉ USD. Điều này cho thấy, FDI vào Việt Nam không chỉ tăng tốt, duy trì phong độ rất tích cực mà có yếu tố mới. Đó là những nhà đầu tư chưa từng nghe trong tốp đầu FDI lâu nay, nay nổi lên với những dự án đi đúng định hướng thu hút FDI của Việt Nam, đó là hạ tầng cảng biển, logistics, năng lượng xanh…", TS Nguyễn Minh Thảo chia sẻ.

Sức hút của Việt Nam

Hàng loạt tập đoàn đã lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư cho thấy Việt Nam vẫn có sức hút riêng giữa bối cảnh sự cạnh tranh thu hút vốn FDI diễn ra trên toàn cầu nói chung và khu vực ASEAN nói riêng.

Ông La Vỉnh Lương, Giám đốc Trung tâm kinh doanh J&T Cargo (Indonesia), doanh nghiệp vừa đầu tư vào Việt Nam cuối năm 2025, cho rằng Việt Nam được chọn là điểm đầu tư nhờ hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi, từ tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô thị trường đến vị trí địa lý và định hướng phát triển hạ tầng. "Việt Nam đang là điểm sáng kinh tế của khu vực với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02% năm 2025, mức cao nhất Đông Nam Á, và 10 tháng năm nay tiếp tục tăng rất ngoạn mục. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, sản xuất và hoạt động phân phối, nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng mở rộng, không chỉ ở phân khúc chuyển phát nhanh mà còn ở nhóm hàng hóa có trọng lượng và kích thước lớn", ông Lương phân tích. Theo ông Lương, J&T Cargo cũng như nhiều nhà đầu tư đã nhìn thấy tiềm năng từ sự thay đổi trong cơ cấu hàng hóa và phương thức kinh doanh tại Việt Nam, cùng với chính sách khuyến khích phát triển hạ tầng logistics của Chính phủ… và đã chọn đầu tư vào Việt Nam.

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia trao đổi tại Diễn đàn Kinh tế mùa thu 2026 diễn ra tại TP.HCM cuối tháng 10

ẢNH: NHẬT THỊNH

Ông Lương nhấn mạnh: Tiềm năng của thị trường Việt Nam không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng mà còn ở nhu cầu lưu thông hàng hóa ngày càng đa dạng của nền kinh tế năng động. Khi sản xuất, thương mại và phân phối mở rộng, doanh nghiệp cần những giải pháp vận chuyển có khả năng kết nối các khu vực kinh tế, đáp ứng hàng hóa có trọng lượng lớn hơn, phạm vi giao nhận rộng hơn nhưng vẫn bảo đảm chi phí hợp lý. Giám đốc Trung tâm kinh doanh J&T Cargo khẳng định: "Chúng tôi xác định Việt Nam là thị trường có tiềm năng dài hạn và việc đầu tư không đơn thuần nhằm khai thác kinh doanh, mà hướng đến xây dựng năng lực logistics, mở rộng mạng lưới và phát triển các giải pháp phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam".

Với tầm nhìn đến năm 2030 và mục tiêu phát triển đến năm 2045, Việt Nam đang tạo ra những cơ hội đủ dài hạn để nhà đầu tư cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư. Những chính sách được ban hành thời gian qua cũng góp phần tạo thêm dư địa và cơ hội tăng trưởng, qua đó củng cố sức hấp dẫn của Việt Nam.


TS Nguyễn Minh Thảo, Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược

Với TS Nguyễn Minh Thảo, sức hút của Việt Nam đến từ việc đã mở rộng các chính sách ưu đãi đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ. Bên cạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, những lĩnh vực như năng lượng, sản xuất và phân phối điện, năng lượng sạch, hạ tầng giao thông và logistics cũng đang có nhiều tiềm năng thu hút vốn ngoại. Đây đều là những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới. Đặc biệt, mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải đẩy nhanh đầu tư trên nhiều lĩnh vực, từ sản xuất đến hạ tầng.

Dành cho bạn

  • Vụ phát tán clip đôi nam nữ trong ô tô: Cô gái được người nhà đưa đi cấp cứu
  • Hàng loạt thương hiệu smartphone Trung Quốc bị gỡ khỏi kệ hàng tại Việt Nam
  • Lộ diện 'nghi phạm' khiến smartphone Trung Quốc bị gỡ trưng bày

"Muốn tăng trưởng nhanh thì quy mô đầu tư phải lớn, trong khi yêu cầu tăng trưởng bền vững lại mở ra cơ hội cho các lĩnh vực năng lượng sạch, xe điện, nguồn vốn xanh và trái phiếu xanh. Đây không chỉ là xu hướng riêng của Việt Nam mà còn phù hợp với định hướng chuyển dịch của kinh tế thế giới", TS Thảo phân tích và khẳng định: Sức hút của Việt Nam hiện nay là thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Một chính sách đúng nhu cầu của nhà đầu tư, một nền kinh tế mở với triết lý làm bạn với năm châu và khát vọng lớn mạnh.

Chuyên gia này cũng lưu ý, xu hướng chuyển dịch dòng vốn giữa các quốc gia vẫn luôn luôn sôi động. Việt Nam tiếp tục được xem là điểm đến có nhiều cơ hội nhờ sự kết hợp giữa lợi thế sẵn có và những chính sách đang được triển khai. Đáng chú ý, dòng vốn nước ngoài không chỉ đi vào Việt Nam thông qua hình thức đầu tư trực tiếp, thành lập doanh nghiệp, mà còn thông qua các quỹ đầu tư.

Việt Nam cần tiếp tục bảo vệ uy tín điểm đến như siết xuất xứ; giữ chân nhà đầu tư hiện hữu và huy động vốn đồng đầu tư thông qua việc lập cơ chế ứng phó nhanh khi có cú sốc gồm đối thoại định kỳ với các nhà đầu tư lớn nhất, cam kết ổn định chính sách có điều kiện cho dự án đặc biệt lớn hay đa dạng hóa đối tác đầu tư.

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Tú Anh

"Trong thời gian gần đây, tôi nhìn thấy nhiều quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tham gia các dự án hạ tầng, năng lượng lớn. Đây cũng là một hình thức chuyển dịch của dòng vốn, khi nhà đầu tư lựa chọn đầu tư vào những lĩnh vực có tiềm năng thay vì trực tiếp thành lập doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, hình thức đầu tư qua quỹ có thể thuận lợi hơn so với việc thành lập doanh nghiệp FDI, nhất là khi nhà đầu tư phải đối mặt với các thủ tục hành chính và nghĩa vụ thuế. Điều quan trọng là cần theo dõi cơ cấu dòng vốn, lĩnh vực và ngành nghề được lựa chọn để đánh giá xu hướng dịch chuyển cũng như mức độ phù hợp với định hướng thu hút đầu tư của Việt Nam", TS Thảo nói.

Cần gắn ưu đãi với điều kiện để FDI có giá trị thực chất

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Tú Anh nhận định, bối cảnh quốc tế hiện nay phân mảnh, bất định và đắt đỏ; trong đó địa chính trị đang trở thành biến số lớn nhất của quyết định đầu tư. Trên bình diện toàn cầu, xung đột Trung Đông năm 2026 làm tăng chi phí vận tải, bảo hiểm, đẩy lạm phát trở lại và khiến nhiều dự án bị hoãn, hủy. Bên cạnh đó, lãi suất cao và lợi suất trái phiếu tăng đang thu hẹp nguồn vốn cần thiết cho nhu cầu đầu tư hạ tầng tăng cao. Từ đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng có sự thay đổi. Đầu tư mới vào hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, bán dẫn, khoáng sản thiết yếu và công nghệ năng lượng sạch và bán dẫn tăng mạnh. Việt Nam đã tìm được "điểm vào" ở các phân đoạn như đóng gói, kiểm thử và thiết kế, như dự án 4,5 tỉ USD của Amkor nằm trong nhóm 10 dự án lớn nhất châu Á năm 2025. Đồng thời nhà đầu tư cũng đa dạng hơn, đặc biệt là các quỹ tài sản quốc gia (SWF) và các doanh nghiệp nhà nước.

Chúng tôi xác định Việt Nam là thị trường có tiềm năng dài hạn và việc đầu tư không đơn thuần nhằm khai thác kinh doanh, mà hướng đến xây dựng năng lực logistics, mở rộng mạng lưới và phát triển các giải pháp phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam.

Ông La Vỉnh Lương, Giám đốc Trung tâm kinh doanh J&T Cargo (Indonesia)

Trong bối cảnh đó, theo TS Nguyễn Tú Anh, nhiều quốc gia cũng đã thay đổi và ban hành chính sách đầu tư mới. Chẳng hạn, Malaysia chỉ áp dụng thuế suất ưu đãi tại đặc khu Johor - Singapore với một số ngành chiến lược. Kế đến, các nền kinh tế đưa ra cơ chế sàng lọc đầu tư tăng mạnh, trong khi Mỹ và EU còn kiểm soát đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, lượng tử. Đồng thời nhiều quốc gia yêu cầu gia tăng tỷ lệ nội địa hóa như Thái Lan yêu cầu dự án trên 100 lao động duy trì ít nhất 70% lao động Thái. Tiếp đến là việc giữ chân nhà đầu tư và giữ uy tín điểm đến trước xu hướng bảo hộ bằng các gói bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ có thời hạn...

Nhìn lại Việt Nam, quy mô FDI hiện vẫn đứng thứ ba Đông Nam Á, sau Singapore - một trung tâm tài chính khu vực - và ngang Indonesia. Tuy nhiên, TS Nguyễn Tú Anh khuyến nghị, Việt Nam cũng cần tập trung vào một số giải pháp để đạt mục tiêu chiến lược FDI. Đó là chiến lược chuyển từ "thu hút nhiều" sang "định vị đúng", tập trung thu hút tập đoàn lớn toàn cầu cần một phương pháp định lượng, công khai như với bán dẫn là đóng gói, kiểm thử tiên tiến, thiết kế, vật tư; với AI là trung tâm dữ liệu gắn với điện sạch. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi dựa trên kết quả, tương thích thuế tối thiểu toàn cầu. Cụ thể như áp dụng mô hình "cam kết - đo lường - chi trả" là hỗ trợ theo chi phí thực cho R&D, đào tạo, phát triển nhà cung ứng; chi trả khi đạt chỉ tiêu nội địa hóa, số kỹ sư Việt Nam được đào tạo... Tiếp theo là cạnh tranh bằng năng lực nền thay vì trợ cấp như dồn ngân sách vào điện sạch ổn định với giá dự báo được (mở rộng mua bán điện trực tiếp), quỹ đất sạch, phòng thí nghiệm dùng chung và đặc biệt là đào tạo kỹ sư bán dẫn, AI.

Đồng thời, biến FDI thành động lực cho doanh nghiệp trong nước thông qua việc thành lập các trung tâm kết nối FDI - doanh nghiệp nội địa theo mô hình phát triển nhà cung ứng, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi cam kết số nhà cung ứng Việt Nam đạt chuẩn và nhà nước đồng tài trợ chứng nhận, chuyển đổi số.

Vốn FDI giải ngân cao nhất trong vòng 5 năm qua

Không chỉ vốn FDI đăng ký tăng mạnh, dòng vốn FDI thực hiện trong 10 tháng năm 2026 ước đạt 24,08 tỉ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong cùng kỳ 10 tháng của 5 năm qua.

"Các giải pháp chỉ phát huy tác dụng khi có một đầu mối điều phối thống nhất giữa chính sách ngành, đầu tư, thương mại, khoa học, công nghệ và năng lượng; một hệ thống chỉ số công khai (tỷ lệ vốn thực hiện/đăng ký, tỷ lệ nội địa hóa, chi phí ngân sách trên mỗi việc làm kỹ thuật) và chính sách ổn định, dự báo được mà Việt Nam có thể cung cấp", TS Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh.

TS Nguyễn Minh Thảo thì cho rằng cần đánh giá khả năng chuyển giao công nghệ, tác động lan tỏa sang các khu vực kinh tế và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị. Nếu doanh nghiệp FDI tiếp tục chủ yếu tận dụng lợi thế của Việt Nam để gia công, lắp ráp thì hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế sẽ còn hạn chế. Cần ghi nhận là FDI thế hệ mới đang mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, đồng thời tạo thêm nhu cầu về nhân lực phục vụ các doanh nghiệp FDI. Vì vậy, trong bối cảnh nền kinh tế tăng tốc đạt tăng trưởng 2 con số, thu hút FDI bắt buộc phải gắn các chính sách ưu đãi với những điều kiện và kết quả đầu ra cụ thể. Chẳng hạn, dự án được hưởng ưu đãi cần có cam kết sử dụng nhân lực Việt Nam, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; liên kết với các trường đại học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong nước; đồng thời có trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động. Những yêu cầu này sẽ giúp tăng hiệu quả lan tỏa, bảo đảm dòng vốn FDI thực sự đóng góp vào năng lực của nền kinh tế, thay vì chỉ gia tăng quy mô vốn đầu tư.


person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!