Yêu cầu giảm lãi suất: Vốn rẻ vẫn chưa đủ, doanh nghiệp cần thêm gì?

Giảm lãi suất cần đi đôi với khả năng tiếp cận vốn

Tại cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ những tháng cuối năm chiều 16/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu khẩn trương triển khai thực chất, hiệu quả, kịp thời các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Động thái này được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính, cải thiện dòng tiền và có thêm nguồn lực duy trì, mở rộng sản xuất trong những tháng cuối năm.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước đến cuối tháng 8/2026, khoảng 77,44% tổng dư nợ toàn nền kinh tế được phân bổ vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Xét theo ngành kinh tế, thương mại - dịch vụ chiếm 70,11% dư nợ, công nghiệp - xây dựng chiếm 23,1%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,08%.

Các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục ghi nhận tăng trưởng tín dụng tích cực. Dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 22% tổng dư nợ nền kinh tế. Đáng chú ý, Chương trình tín dụng lĩnh vực nông, lâm sản, thủy sản, sau khi được nâng quy mô lên 185.000 tỷ đồng, đã giải ngân lũy kế gần 238.120 tỷ đồng tính đến cuối tháng 8, đạt 128,7% quy mô chương trình, với 88.434 lượt khách hàng tiếp cận vốn.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa , dư nợ tín dụng đến cuối tháng 8 đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Cùng với đó, 19 ngân hàng thương mại đã triển khai các gói tín dụng hướng đến động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa với tổng quy mô 407.000 tỷ đồng, áp dụng lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn.

Trao đổi với PV Tiền Phong , PGS, TS. Đặng Quang Vinh - chuyên gia Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) - cho rằng, chủ trương giảm lãi suất cho vay thể hiện định hướng nhất quán trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp , tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Yêu cầu giảm lãi suất: Vốn rẻ vẫn chưa đủ, doanh nghiệp cần thêm gì? - Ảnh 1

PGS, TS. Đặng Quang Vinh - chuyên gia Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV).

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chi phí vốn và áp lực cạnh tranh tiếp tục là thách thức đối với doanh nghiệp . Vì vậy, việc giảm lãi suất có ý nghĩa quan trọng, giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và tạo điều kiện để nguồn vốn tín dụng phục vụ hiệu quả hơn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, theo ông Vinh, để mục tiêu giảm lãi suất 1,5 - 2% thực sự đi vào cuộc sống, cần xem xét đồng thời chi phí vốn của hệ thống ngân hàng, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp và nhu cầu thị trường cũng như kỳ vọng lợi nhuận trong tương lai.

Về bản chất, lãi suất cho vay phụ thuộc vào chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động và mức độ rủi ro tín dụng . Khi chi phí huy động tăng, việc giảm mạnh lãi suất trên diện rộng có thể gây áp lực lên biên lợi nhuận và sự an toàn của hệ thống ngân hàng.

Do đó, ông Vinh cho rằng, việc giảm lãi suất cần được triển khai có trọng tâm, kết hợp điều hành thanh khoản linh hoạt, tiết giảm chi phí hoạt động tại các ngân hàng và thực hiện những chương trình hỗ trợ lãi suất có mục tiêu. Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng đóng vai trò quan trọng để tạo dư địa giảm chi phí vốn mà vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.

Vốn rẻ chưa đủ

Trao đổi với PV Tiền Phong , GS, TS Mạc Quốc Anh - Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp - cho biết để giải quyết căn cơ bài toán vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chuyển từ tư duy hỗ trợ tín dụng đơn thuần sang xây dựng hệ sinh thái tài chính phù hợp với đặc điểm, quy mô và năng lực phát triển của doanh nghiệp .

Ông Quốc Anh kiến nghị triển khai đồng bộ bảy nhóm giải pháp, trong đó trước hết là ổn định và từng bước giảm chi phí vốn vay theo điều kiện thị trường.Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức thẩm định tín dụng theo hướng dựa trên dòng tiền, hợp đồng kinh tế, hóa đơn điện tử, lịch sử nộp thuế và uy tín thanh toán. Những doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, khả năng trả nợ được chứng minh bằng dữ liệu cần có cơ hội tiếp cận vốn, ngay cả khi thiếu tài sản bất động sản thế chấp.

Vốn rẻ cho doanh nghiệp sản xuất là điều kiện cần nhưng chưa đủ (ảnh: VQ).

Một giải pháp quan trọng khác là nâng cao hiệu quả quỹ bảo lãnh tín dụng thông qua tăng cường năng lực tài chính, hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro giữa quỹ, ngân hàng và doanh nghiệp , đồng thời đơn giản hóa thủ tục. Tại Hà Nội, cần đẩy mạnh kết nối giữa cơ quan quản lý, ngân hàng thương mại và các hiệp hội doanh nghiệp .

Ngoài ra, cần đa dạng hóa sản phẩm tín dụng , phát triển bao thanh toán, tài trợ đơn hàng, tín dụng chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính và cấp vốn dựa trên khoản phải thu.

Song song với việc thúc đẩy cầu, cần nâng cao năng lực cung ứng, cải thiện năng suất, giảm chi phí logistics và tiếp tục cải cách môi trường kinh doanh. Nếu nhu cầu tăng nhưng năng lực sản xuất không đáp ứng, tác động tích cực có thể bị hạn chế, thậm chí tạo thêm áp lực lạm phát.

GS, TS. Đặng Quang Vinh cho rằng, hiệu quả chính sách không nên chỉ được đánh giá qua mức giảm lãi suất niêm yết hay tốc độ tăng trưởng tín dụng . Những tiêu chí quan trọng hơn là số doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi, mức giảm chi phí vay thực tế, số việc làm được tạo ra và giá trị gia tăng mà nền kinh tế đạt được.

“Vấn đề cốt lõi không chỉ là làm sao để doanh nghiệp vay được vốn với lãi suất thấp hơn, mà là làm sao để doanh nghiệp có đủ niềm tin vào thị trường để muốn vay vốn và mở rộng đầu tư”, ông Vinh nhấn mạnh.

person

Thấy bài viết hữu ích?

Chia sẻ với bạn bè của bạn!